Thuyền và truyền thống đi biển của Hải đội Hoàng Sa – Bắc Hải

17:32 | 08/05/2026

Việc xác định nước Việt Nam có văn hóa biển hay không, hiện vẫn còn những ý kiến khác nhau. Song, với một quốc gia có đường bờ biển dài tới 3.260km và khoảng 300 đảo và bán đảo vẫn có thể khẳng định, từ lâu đời nước Việt Nam xưa gồm ba vương quốc cổ đại hợp thành là Âu Lạc ra đời từ văn hóa Đông Sơn, Chămpa ra đời từ văn hóa Sa Huỳnh và Phù Nam ra đời từ văn hóa Óc Eo đã là một quốc gia biển đảo, có truyền thống làm chủ những vùng biển rộng lớn và khai thác nhiều đảo và quần đảo phục vụ cho cuộc sống, bảo vệ và phát triển đất nước.

Nghi lễ tái hiện đội hùng binh Hoàng Sa – Bắc Hải lên đường làm nhiệm vụ trên biển.

Về văn hóa biển của người Việt Nam, xin trích lại câu nói của Hoài Nam vương đời Hán bên Trung Quốc: “Người Việt tạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền, ở trên cạn ít mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xăm mình, đóng khố để tiện bơi lội, tay áo cột để tiện chèo thuyền”; hoặc “hình ảnh những con thuyền thân dài, dùng mái chèo chạm khắc trên các trống đồng Đông Sơn vốn là thuyền đi sông nước. Sự đậm đặc của văn hóa sông nước ở Việt Nam là điều khẳng định hiển nhiên”[1].

Thuyền của người Việt không chỉ dọc ngang trên sông nước – dù là sông Cái (sông Mẹ, sông Hồng) mà còn là sông Bạch Đằng, sông Thái Bình, sông Thu Bồn, sông Tiền, sông Hậu và các chi nhánh mà còn dọc ngang trên biển cả. Những chiến thuyền của quân đội Đại Việt thời nhà Trần đánh tan đoàn thuyền lương của tướng nhà Mông – Nguyên khi sang xâm lược Việt Nam trên vùng biển Đông Bắc vào năm 1287 do Trương Văn Hổ chỉ huy gồm 70 chiếc chở 170.000 thạch lương là biểu hiện truyền thống đi biển của người Việt.

Cũng như nhiều dân tộc ở Đông Nam Á, người Việt có truyền thống chế tác các phương tiện để “đi” sông, “đi” biển. Theo W.G.Solhem II, “xuồng đục thân cây có lẽ đã được sử dụng trên các sông rạch Đông Nam Á từ lâu, khoảng 5000 năm trước Công nguyên. Rất có thể các bộ phận giữ thăng bằng lồi ra bên hông xuồng cũng được sáng chế tại Đông Nam Á khoảng 4000 năm trước Công nguyên, làm cho xuồng được vững chắc hơn trong khi cần vượt biển”[2].

Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng người Việt cổ “giỏi dùng thuyền”. Ở Việt Nam sông nước, thuyền rồng là biểu tượng của quyền uy, trong khi ở Trung Hoa, quyền uy của vua thể hiện ở các xe tam mã, tứ mã[3].

Cho đến nay, có thể liệt kê nhiều phương tiện giao thông được sử dụng trên sông nước ở Việt Nam khá phổ biến, gồm: thuyền, đò, ghe, bè, mảng, phà, tàu… Theo Tấn thư, ngay từ thời xa xưa, cách ngày nay hàng ngàn năm, người Việt đã đóng được những con tàu có thể chở tới 600 – 700 người và số lượng tàu thuyền cũng rất nhiều. Vào thế kỷ XV, sau khi đánh bại nhà Hồ, quân Minh đã cướp được 8.865 chiếc thuyền cùng với nhiều thợ đóng thuyền giỏi của Đại Nam về nước…

Trước thời nhà Hồ, người Việt đã lập nên nhiều chiến công trong các trận thủy chiến. Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938 để sau đó một năm, năm 939 lập nên nhà Ngô. Vào thế kỷ XIII, Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Mông Nguyên trên sông nước ở Đông Bộ Đầu, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương và Bạch Đằng, Nguyễn Huệ đánh tan 5 vạn quân thủy bộ Xiêm La trên sông ở Rạch Gầm, Soài Mút.

Truyền thống sông nước đòi hỏi người Việt phải đóng được những con tàu chắc chắn, nhiều cỡ để chịu được không chỉ sự hung dữ của các con sông, như sông Cái, sông Bạch Đằng trong mùa nước lũ mà còn của sóng nước khi biển động, gió bão. Vậy nên đã có sách khảo cứu nêu tên các loại thuyền khác nhau, chủ yếu dùng cho quân sự là thuyền vận tải, thuyền chiến đấu, thuyền đi tuần[4].

Vào thế kỷ XIII – thời các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, có loại thuyền vận tải là thuyền chuyên chở quân lương, vũ khí và binh lính đánh bộ. Thuyền chở quân có thể cấu tạo hơi riêng biệt để đảm bảo sức khỏe cho binh lính trong những cuộc hành quân dài ngày. Loại thuyền này có thể chạy bằng buồm hoặc sức người chèo tùy theo điều kiện tự nhiên… Thuyền chiến đấu được coi là thuyền đặc chủng của quân thủy. Nhiệm vụ chính của loại thuyền này là dùng khả năng chiến đấu của thuyền để tiêu diệt đối phương nên phần lớn được lắp thêm các khẩu pháo… Còn loại thuyền đi tuần hoặc thuyền sử dụng cho mục đích do thám, liên lạc thường nhỏ, nhẹ, cơ động…

Ngay trong khoảng thời gian thế kỷ XVII-XVIII, ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, các chính quyền của chúa Trịnh và chúa Nguyễn còn cho đóng các loại thuyền nhằm mục đích tổ chức khai thác biển, tổ chức tuần phòng trên biển, tổ chức phòng thủ bờ biển và tổ chức thu thuế, buôn bán với tàu nước ngoài…

Những mô hình thuyền câu trong Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, gợi nhắc hành trình vượt biển năm xưa.

Về quy mô của các loại thuyền thời này, ở Đàng Ngoài, có thể tham khảo sách Lê truyền hội điển: Thuyền Thiện Hải lớn dài 65 thước (mỗi thước bằng khoảng 0,40m), rộng 10 thước có 46 cột chèo; còn thuyền hạng trung dài 55 thước, rộng 9 thước, 24 cột chèo; thuyền hạng nhỏ dài 50 thước, rộng 9 thước, 24 cột chèo… Thuyền ở Đàng Ngoài phần lớn là giang thuyền, mang đặc tính sông nước. Về những con thuyền này, xin dẫn lời nhận xét của sứ nhà Thanh năm 1688 như sau: “Thuyền An Nam như cái cánh hoa sen, chế rất tinh xảo”[5].

Còn thuyền chiến của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, thường là những hải thuyền, mang đặc tính thuyền biển. Trong công trình khảo cứu của Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang và Nguyễn Mạnh Hùng có dẫn lại lời của P.Poivre, phái bộ của Công ty Đông Ấn Pháp đến Đàng Trong năm 1749, tận mắt quan sát những xưởng thuyền chúa Nguyễn trên sông Hương viết rằng thuyền chiến lớn nhất của chúa Nguyễn dài khoảng 90 – 100 bộ (pied – khoảng 0,3248 mét), cao 7 – 8 bộ, mặt boong cách mặt nước khoảng 2,5 bộ… Mỗi thuyền có khoảng 40 – 60 cột chèo. Trọng tải ước chừng khoảng 100 – 150 tấn[6].

Qua việc trình bày trên đây, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh một điều: Việt Nam là một quốc gia biển và còn là một quốc gia có hệ thống sông ngòi chằng chịt từ Bắc vào Nam. Vì vậy, từ trong lịch sử xa xưa, người Việt đã đóng được những con tàu theo nhiều kích, cỡ khác nhau, rất phong phú và chắc chắn đủ điều kiện để làm phương tiện giao thông vận tải, phục vụ nhu cầu sinh kế (đánh bắt cá), giao lưu buôn bán và cung cấp cho lực lượng vũ trang phương tiện để chiến đấu chống các thế lực xâm lược trên sông, hồ và biển cả.

Như đã biết, Việt Nam không chỉ có sông ngòi, biển mà còn có các đảo và cụm đảo. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những vùng lãnh thổ từ lâu đời của Việt Nam.

Về quần đảo Hoàng Sa: Đây là một quần đảo nằm trong khoảng vĩ độ 15o45 Bắc đến 17o15 Bắc, từ kinh độ 111o Đông tới 113o Đông ở khu vực phía Bắc Biển Đông, ngang với khu vực bờ biển nay thuộc các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi. Điểm cực Tây của quần đảo Hoàng Sa (tức đảo Tri Tôn) cách đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý (khoảng 288km).

Hoàng Sa là địa danh chính thức, lâu đời có mối quan hệ nguồn gốc trực tiếp với địa danh dân gian như Bãi Cát Vàng, Cát Vàng, Cồn Vàng… Quần đảo Hoàng Sa gồm hơn 37 đảo, đá, bãi cạn, chia làm hai nhóm: Nhóm phía Đông có tên nhóm An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo, đá, bãi cạn, trong đó có hai đảo lớn là Phú Lân và Linh Côn; Nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp thành vòng cung nên gọi là nhóm Lưỡi Liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa, Quang Ánh, Hữu Nhật, Quang Hà, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn…[7].

Sử liệu có niên đại sớm nhất Việt Nam còn lưu giữ được là tập bản đồ Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo soạn vẽ vào năm 1686. Trong tập bản đồ vẽ huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, phía trên có phần chú dẫn miêu tả vị trí một hòn đảo ở ngoài khơi phủ này, gọi là Bãi Cát Vàng. Chú dẫn của Đỗ Bá cho biết hàng năm chúa Nguyễn đều sai binh thuyền đi ra đảo để khai thác nguồn lợi tại vùng biển đảo này. Chữ Toản tập trong nhan đề của tập bản đồ này chứng tỏ Đỗ Bá đã soạn vẽ tập bản đồ này trên cơ sở khảo cứu và chỉnh lý những bản đồ có từ trước. Theo Võ Long Tề, mặc dù Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được soạn vẽ vào cuối thế kỷ XVII, nhưng tư liệu mà Đỗ Bá sử dụng để vẽ tập bản đồ này là dựa theo các bản đồ có từ thế kỷ XV, được tập hợp trong bộ Hồng Đức bản đồ (Bản chép tay Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá sáp nhập với bộ Hồng Đức bản đồ, ký hiệu 100891 hiện đang lưu giữ tại Toyo Bunko (Đông Dương văn khố) ở Tokyo, Nhật Bản. Hồng Đức là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Như vậy, từ thế kỷ XV người Việt đã biết tới hòn đảo mà Đỗ Bá gọi là Bãi Cát Vàng. Ba chữ Bãi Cát Vàng là chữ Nôm chứng tỏ những người đặt tên cho hòn đảo này không phải là những học giả tinh thông Hán học, mà là những dân chài ít học đã đến đây khai thác các nguồn lợi và đặt tên hòn đảo là Bãi Cát Vàng đúng như họ đã thấy ở đây[8].

Còn quần đảo Trường Sa: Đây là một quần đảo nằm trong khoảng từ vĩ tuyến 6o 30´ Bắc đến 12o 00´ Bắc và khoảng từ kinh tuyến 11130´ Đông đến 117 20´ Đông, cách quần đảo Hoàng Sa gần 200 hải lý về phía Nam, bao gồm hàng trăm đảo, đá, bãi nửa nổi nửa chìm (trong đó mới có 148 đảo, đá… được đặt tên). Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước khoảng 3 – 5m. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa chỉ khoảng 3km2, chỉ bằng 3/10 tổng diện tích của quần đảo Hoàng Sa (10km2), nhưng lại trải dài trên một vùng biển rộng gấp 10 lần quần đảo Hoàng Sa[9].

Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã xác lập một nhận thức chung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ thế kỷ XVII, bản Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ký hiệu A.2499 – 43b, bản A.1081 chép: Giữa biển có đảo cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, từ cửa Đại Chiên đến cửa Sa Huỳnh, ước dài năm súc trăm dặm, rộng ba, bốn mươi dặm, đứng sừng sững giữa biển.

Còn bộ chính sử triều Nguyễn – Đại Nam thực lục tiền biên xác nhận: Đội Hoàng Sa ở Quảng Nam đi thuyền ra đảo Hoàng Sa… Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nam có hơn 300 bãi cát cách nhau hoặc đi 1 ngày đường hoặc vài trống canh, cát dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi Vạn lý Trường Sa. Trước đó, từ đầu thế kỷ XVIII, bộ Thực lục đã chép: Chúa Nguyễn sai Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu “đo bãi cát biển Trường Sa: Trường Sa hải chử dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu[10].

Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã rất coi trọng vị trí chiến lược của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Coi “xứ Hoàng Sa là cương giới trên biển của nước ta”, hoặc “cương giới trên biển của nước ta, Hoàng Sa là tối hiểm yếu”. Vị trí tối hiểm yếu này không chỉ xét về một số lợi ích khai thác các loại sản vật, một số đồ vật để lại của các con tàu đắm mà còn vì địa thế hiểm yếu, vì vai trò cương giới và phòng vệ trên biển.

Trên đây là những lý do chính khiến các chúa Nguyễn sau đó là triều Tây Sơn rồi triều Nguyễn cho thành lập các đội Hoàng Sa và Bắc Hải để cùng một lúc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế (khai thác sản vật, thu lượm các đồ vật của các con tàu đắm), đồng thời kiêm quản thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tiến hành thu thuế đối với các tàu đánh bắt hải sản của các nước khác trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa, thực hiện nhiệm vụ do thám ngoài biển, gìn giữ an ninh ngoài biển…

Về việc tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải, Lê Quý Đôn đã viết như sau: “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tư Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải. Phủ Quy Nhơn thì cách cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo, nhiều yến sào, lập đội Thanh Châu để lấy. Ngoài biển phủ Bình Thuận thì có núi gọi là Côn Lôn, rộng mấy dặm, cũng có nhiều yến sào. Ở ngoài nữa có núi gọi là Cù Lao Khoai, trước có nhiều hải vật và hóa vật, lập đội Hải Môn để lấy. Cửa biển phủ Gia Định có núi gọi là Côn Lôn. Phía ngoài biển trấn Hà Tiên có núi gọi là Đại Côn Lôn, có dân cư[11].

Về đội Hoàng Sa do chúa Nguyễn thành lập. Tiến sĩ Trần Công Trục, trong tác phẩm Quá trình xác lập và thực tại chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và công trình Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, căn cứ vào việc nghiên cứu Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn để cho rằng đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất là từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) hay chắc chắn từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời kỳ này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận An) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân”[12].

Đội Hoàng Sa, theo sử sách để lại, gồm 70 người dân xã An Vĩnh được chọn với nhiệm vụ: “Cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy ra đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ mà bắt chim cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiêng, cùng là kiếm lược vỏ đồi mồi, bỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vốn rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào đến cửa Eo, đến thành Phú Xuân thì nộp, cân và định hạng xong, rồi lĩnh bằng trở về”[13].

Những người dân An Vĩnh cũng như nhiều ngư dân vùng biển Nam Trung Bộ lúc ấy là những ngư dân có nhiều kinh nghiệm đi biển theo truyền thống của người Việt, người Chăm… Còn thuyền câu nhỏ thì kế thừa truyền thống đóng thuyền của nhiều đời để lại, là những chiến thuyền được đóng tinh xảo, chắc chắn để vượt biển…

[1]. Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, Những vấn đề văn hóa học và ứng dụng (Tái bản có sửa chữa), Nxb Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr.134.

[2]. W.G.Solhem II, New light on a Forgotten Past – National geographic, vol 139, No3, Maroh, 1971, s.81.

[3]. Xem Trần Ngọc Thêm, Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng, Sđd, tr.140-141.

[4]. Xem: Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tr.291, 292.

[5]. Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, tập 2, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1962, tr.151.

[6]. Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Sđd, tr.296-297.

[7]. Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa – Tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.44, 45.

[8]. Xem: Trần Đức Anh Sơn (Chủ biên), Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013, tr.25, 26.

[9]. Xem: Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa – Tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr.50.

[10]. Phan Huy Lê, Châu bản triều Nguyễn và những chứng cứ lịch sử – pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa, in trong: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Nghiên cứu và tuyên truyền về chủ quyền biển đảo Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2019, tr.30, 31.

[11]. Lê Quý Đôn, Toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Q.2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.119, 120.

[12]. Trần Công Trục (Chủ biên), Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2011, tr.17 và 79.

[13]. Lê Quý Đôn, tập 1: Phủ biên tạp lục, Sđd, tr.123.

PGS.TS. Trần Đức Cường

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam


Cùng chuyên mục

Việt Nam nỗ lực bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên AI

Việt Nam nỗ lực bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên AI

Khởi động cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2026 – Định hình chuẩn mực sắc đẹp Việt

Khởi động cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2026 – Định hình chuẩn mực sắc đẹp Việt

Sinh tử nơi đầu sóng, ngư dân viết thư tri ân người lính Biên phòng Hải An

Sinh tử nơi đầu sóng, ngư dân viết thư tri ân người lính Biên phòng Hải An

TP.HCM cụ thể hóa Nghị quyết 80, đưa văn hóa thành trụ cột phát triển

TP.HCM cụ thể hóa Nghị quyết 80, đưa văn hóa thành trụ cột phát triển

Làn sóng hồi hương lao động tại Hà TĩnhLàn sóng hồi hương lao động tại Hà Tĩnh

Làn sóng hồi hương lao động tại Hà TĩnhLàn sóng hồi hương lao động tại Hà Tĩnh

Hà Nội: Nhà thờ họ Hoàng đón Bằng xếp hạng Di tích Lịch sử – Văn hoá cấp Thành phố

Hà Nội: Nhà thờ họ Hoàng đón Bằng xếp hạng Di tích Lịch sử – Văn hoá cấp Thành phố