Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tạo nên sức mạnh vô song của dân tộc Việt Nam.
Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ Nhất (24/11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”[1]. Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của văn hóa: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc”[2]. Tuy nhiên, để văn hóa thực sự thẩm thấu và kết tinh thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển, cần chú trọng xây dựng môi trường văn hóa.
Xây dựng môi trường văn hóa được Đảng ta đặc biệt quan tâm và được cụ thể hóa trong các nghị quyết chuyên đề. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII[3] đặt trọng tâm xây dựng môi trường văn hóa gắn với các đơn vị cơ sở, vùng dân cư và các phong trào. Đến Nghị quyết 33-NQ/TW[4], Đảng ta đã có bước phát triển vượt bậc khi đặt con người vào vị trí trung tâm; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; khẳng định môi trường văn hóa là không gian sinh tồn để rèn luyện nhân cách và đạo đức: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống… Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội… Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống…”. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị[5] vừa kế thừa, vừa bổ sung và nâng tầm tư duy lý luận về văn hóa: “là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”; theo đó, môi trường văn hóa được định vị với 4 trụ cột: Nhân văn – lành mạnh – văn minh – hiện đại.

Trong bốn trụ cột đó, tính “Nhân văn” được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nơi con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể sáng tạo và mục tiêu tối thượng của mọi chiến lược phát triển. Đây là không gian nuôi dưỡng và bảo vệ nhân phẩm, nơi các giá trị chân – thiện – mỹ trở thành kim chỉ nam cho mọi hành vi ứng xử xã hội. Khi tính nhân văn thẩm thấu sâu sắc vào các mối quan hệ, nó sẽ kết tinh thành “vốn xã hội” đặc biệt, chuyển hóa lòng trắc ẩn thành động lực tự thân, tạo tiền đề vững chắc để dân tộc vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Tính “Lành mạnh” đóng vai trò là hệ miễn dịch, tạo lập “sức đề kháng” vững chắc cho dân tộc trước những luồng thông tin đa chiều, xuyên biên giới. Trong bối cảnh kỷ nguyên số, môi trường văn hóa lành mạnh chính là “vắc-xin” đặc hiệu để nhận diện, thanh lọc các sản phẩm ngoại lai lệch chuẩn và các luồng tư tưởng độc hại. Bằng việc kiên trì phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, chúng ta kiến tạo một không gian văn hóa trong sạch từ tư tưởng đến hành động, giữ vững bản lĩnh và cách ứng xử trong cả đời thực lẫn trên không gian mạng.
Tính “Văn minh” là chuẩn mực quản trị và thước đo tầm vóc quốc gia, được xác lập trên nền tảng tinh thần thượng tôn pháp luật. Đây là sự hòa quyện giữa ý thức trách nhiệm công dân và kỷ cương xã hội, biến luật pháp từ những quy định khô khan thành lẽ sống và thước đo phẩm giá của mỗi con người. Khi văn hóa pháp quyền kết hợp nhuần nhuyễn với các chuẩn mực đạo đức tiến bộ, một “hệ điều hành” văn hóa tối ưu sẽ được vận hành, giúp bảo tồn vẹn nguyên hồn cốt dân tộc và định vị bản sắc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tính hiện đại chính là sức sống mới của văn hóa trong dòng chảy hội nhập. Xây dựng môi trường văn hóa hiện đại không chỉ đơn thuần là ứng dụng khoa học công nghệ để lan tỏa giá trị bản sắc, mà còn là quá trình “thổi hồn” thời đại vào những cốt cách xưa. Đây chính là đòn bẩy khơi dậy sức mạnh mềm, định vị thương hiệu quốc gia và đưa Việt Nam tự tin đóng góp những giá trị riêng biệt vào nền văn minh nhân loại.
Trong những năm qua, việc xây dựng môi trường văn hóa được các cấp, các ngành quan tâm, đạt kết nhiều quả tích cực. Tuy nhiên, việc xây dựng môi trường văn hoá, đời sống văn hóa vẫn còn những hạn chế: Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh; đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp[6]. Đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Xây dựng văn hoá trong chính trị, văn hoá trong kinh tế chưa bền vững, tiêu chí đánh giá chưa rõ ràng, chưa thực sự đi vào đời sống[7].
Trong kỷ nguyên mới, để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng môi trường văn hóa nhân văn – lành mạnh – văn minh – hiện đại, cần một chiến lược tổng thể với những bước đi đột phá. Trong đó, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng là hạt nhân chính trị mang tính định hướng; hiệu lực quản lý của Nhà nước là đòn bẩy kiến tạo pháp lý; và đặc biệt, vai trò chủ thể của Nhân dân chính là động lực tự thân, là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công. Trên tinh thần đó, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là, đưa các hệ giá trị từ Nghị quyết vào đời sống, thông qua “văn hóa nêu gương”. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể cần triển khai đồng bộ và sâu rộng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, làm cho các giá trị này thực sự thẩm thấu vào nếp nghĩ, lối sống của mỗi người. Chìa khóa chính là “văn hóa nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Sự nêu gương không chỉ là bổn phận đạo đức mà phải trở thành chuẩn mực văn minh trong thực thi công vụ. Khi người đứng đầu là biểu tượng của sự nhân văn và liêm chính, đó chính là “mệnh lệnh” không lời để lan tỏa cái đẹp, củng cố niềm tin, tạo nên sức mạnh gắn kết xã hội.
Hai là, đột phá thể chế, chuyển dịch từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo và phục vụ”. Cần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ để khơi thông các điểm nghẽn, đưa văn hóa văn minh pháp quyền trở thành khung khổ cho mọi hoạt động. Trọng tâm là xây dựng các chính sách ưu đãi, đột phá để phát triển văn hóa; đồng thời chú trọng thực hiện mục tiêu: biến di sản thành tài sản, biến giá trị văn hóa thành động lực kinh tế. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hệ sinh thái, kích hoạt nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng. Đặc biệt, phải kiên quyết đoạn tuyệt với “tư duy dàn trải” và “bệnh thành tích” hình thức, thay bằng bộ chỉ số đánh giá thực chất lấy sự hài lòng và mức độ thụ hưởng của Nhân dân làm thước đo tối thượng.
Ba là, xây dựng “màng lọc” và khẳng định chủ quyền văn hóa trên không gian mạng. Không gian số là trận địa văn hóa mới, nơi tính lành mạnh phải được khẳng định bằng những hành động cụ thể. Cần xây dựng cơ chế phản biện xã hội và giám sát cộng đồng để giữ gìn môi trường mạng trong sạch. Mỗi tài khoản của cán bộ, đảng viên phải là một “cột mốc chủ quyền văn hóa”, không chỉ có nhiệm vụ phòng chống thông tin xấu độc mà phải chủ động dẫn dắt, định hướng thẩm mỹ và hành vi ứng xử. Việc chiếm lĩnh không gian số bằng nội dung nhân văn chính là cách xây dựng “hệ miễn dịch tự nhiên” bền vững nhất cho dân tộc.
Bốn là, “thông minh hóa” các thiết chế văn hóa. Công nghệ phải trở thành cầu nối để di sản “đối thoại” với Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Chuyển đổi số không chỉ là lưu trữ tĩnh mà phải tạo ra một hệ sinh thái trải nghiệm đa giác quan – nơi giá trị truyền thống được “tái sinh” bằng ngôn ngữ của tương lai . Đây chính là đòn bẩy chiến lược để phát huy “sức mạnh mềm”, đưa văn hóa Việt Nam vươn tầm thế giới với tâm thế của một quốc gia văn minh, năng động.
Năm là, khơi dậy động lực tự thân và vai trò chủ thể sáng tạo của Nhân dân. Môi trường văn hóa chỉ bền vững khi lấy Nhân dân làm trung tâm, để mỗi người dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Cần khơi dậy khát vọng cống hiến để mỗi cá nhân tự nguyện là một “đại sứ văn hóa”. Khi sự tử tế và tính nhân văn được bồi đắp từ gốc rễ mỗi gia đình và cộng đồng, môi trường văn hóa sẽ tự sản sinh cơ chế “thanh lọc” tự nhiên, tạo thành nguồn lực nội sinh bền bỉ để đất nước bứt phá và tỏa sáng.
Xây dựng môi trường văn hóa nhân văn – lành mạnh – văn minh – hiện đại chính là “chìa khóa” để bảo tồn hồn cốt dân tộc trong kỷ nguyên số. Khi văn hóa kết tinh thành sức mạnh nội sinh và “vốn xã hội” đặc biệt, đó sẽ là động lực đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ, khẳng định vị thế và tầm vóc của một Việt Nam văn hiến, tự tin hội nhập và tỏa sáng trên bản đồ văn minh thế giới.
[1] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sđd, tr75, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2024.
[2] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2022, tr157.
[3] Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
[4] Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
[5] Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
[6] Xem Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Báo cáo chính trị của BCH khóa XIII trình Đại hội XIV).
[7] Xem Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam.
Bùi Thanh Tâm






