Phần lớn di tích lịch sử – văn hóa ở nước ta là đình, chùa, đền, miếu, phủ, nhà thờ, thánh thất, tức là những cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo vẫn đang được cộng đồng sử dụng. Thế nhưng thông tin về loại di tích này hiện nằm rải rác ở nhiều cơ quan, nặng về kiến trúc và hiện vật, ít phản ánh nghi lễ và chủ thể thực hành, còn tổ chức tôn giáo và cộng đồng hầu như đứng ngoài quá trình số hóa. Vận dụng quan niệm di sản “sống”, bộ nguyên tắc FAIR về quản lý dữ liệu khoa học và bộ nguyên tắc CARE về quyền của cộng đồng đối với dữ liệu, tác giả cho rằng cần chuyển từ cách xây dựng các cơ sở dữ liệu đơn lẻ sang một hệ sinh thái dữ liệu gồm bốn tầng: hạ tầng định danh và dữ liệu nền; các phân hệ dữ liệu chuyên ngành; các dịch vụ dữ liệu; cơ chế quản trị đồng chủ thể có phân loại mức độ truy cập và chia sẻ lợi ích. Trên cơ sở Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các nghị quyết của Bộ Chính trị, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm biến dữ liệu di tích thành nguồn lực cho quản lý, giáo dục truyền thống, nghiên cứu và văn hóa – du lịch, đồng thời tôn trọng tính thiêng và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, khó tách bạch hệ thống di tích lịch sử – văn hóa với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Đình làng, ngôi chùa, đền thờ thần, phủ thờ Mẫu, nhà thờ Công giáo, thánh thất Cao Đài… vừa là công trình kiến trúc – nghệ thuật, vừa là nơi cộng đồng hằng năm tế lễ, cầu an, sinh hoạt tôn giáo. Những giá trị mà chúng ta quen gọi là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như đạo lý uống nước nhớ nguồn, lòng biết ơn tổ tiên và người có công, tinh thần cố kết cộng đồng, phần lớn được nuôi dưỡng và trao truyền chính trong những không gian ấy, qua những nghi lễ cụ thể chứ không chỉ qua sách vở.
Quy mô của khối di sản này rất lớn. Theo số liệu thống kê năm 2023 được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố khi giới thiệu Luật Di sản văn hóa, cả nước có khoảng 40.000 di tích đã được kiểm kê, trong đó trên 10.000 di tích cấp tỉnh, 3.621 di tích quốc gia và 130 di tích quốc gia đặc biệt[1]. Đến cuối năm 2025, theo Cục Di sản văn hóa, các con số tương ứng là khoảng 11.000 di tích cấp tỉnh, 3.677 di tích quốc gia, 147 di tích quốc gia đặc biệt và 327 bảo vật quốc gia[2]. Ở phía các tôn giáo, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” công bố năm 2023 ghi nhận 29.658 cơ sở thờ tự[3]. Hai tập hợp này giao nhau ở một phần không nhỏ: nhiều ngôi chùa, nhà thờ, thánh thất đồng thời là di tích đã xếp hạng; ngược lại, gần như toàn bộ đình, đền, miếu được xếp hạng đều là cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng.
Chính sự giao nhau đó khiến loại di tích này chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật về di sản văn hóa, về tín ngưỡng, tôn giáo, về lễ hội và về tài chính, với nhiều chủ thể cùng tham gia: ngành văn hóa, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, chính quyền cấp xã, tổ chức tôn giáo, ban quản lý di tích, cộng đồng dân cư. Mỗi chủ thể nắm giữ một phần thông tin. Hồ sơ xếp hạng nằm ở ngành văn hóa; dữ liệu về tổ chức, chức sắc nằm ở cơ quan quản lý tôn giáo và trong chính tổ chức tôn giáo; số liệu lễ hội, tiền công đức nằm ở ban quản lý di tích và chính quyền cơ sở; còn tư liệu nghiên cứu, bản dịch văn bia, sắc phong thì nằm ở các viện, trường. Khi một di tích cần tu bổ hay khi trên mạng xuất hiện thông tin xuyên tạc về một cơ sở thờ tự, người có trách nhiệm thường phải tìm thông tin ở nhiều nơi.
Bối cảnh chính sách hiện nay tạo điều kiện để giải quyết tình trạng đó. Luật Di sản văn hóa năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, dành riêng Điều 85 cho cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa và chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản[4]. Luật Dữ liệu năm 2024 lần đầu tiên đặt ra khung pháp lý chung về xây dựng, phân loại, quản trị và chia sẻ dữ liệu[5]. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và nghị định hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 xếp quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng vào nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm[6]. Về chủ trương, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu “hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026” và yêu cầu “phát huy nhân tố tích cực của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng”[7].
Tuy vậy, các văn bản nói trên tiếp cận di tích chủ yếu từ góc độ di sản văn hóa nói chung. Những đặc thù của di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, như tính “sống” của di sản, vai trò chủ thể của tổ chức tôn giáo và cộng đồng tín đồ, tính thiêng của một số không gian và nghi thức, sự nhạy cảm của dữ liệu tài chính và dữ liệu cá nhân, chưa được tính đến một cách tương xứng. Bài viết này đặt câu hỏi: tổ chức dữ liệu về loại di tích này như thế nào để dữ liệu trở thành một nguồn lực thực sự cho việc phát huy truyền thống dân tộc và cho sự phát triển đất nước, mà không làm tổn hại đến đời sống tâm linh của cộng đồng? Câu trả lời được đề xuất là một mô hình hệ sinh thái dữ liệu số, kèm theo các giải pháp thực hiện trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Di tích tín ngưỡng, tôn giáo: một loại di sản “sống”
Khác với thành quách, lăng mộ hay di chỉ khảo cổ, di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo vẫn đang được dùng đúng với chức năng ban đầu của nó. Ngôi chùa đã xếp hạng vẫn là nơi tăng ni tu tập và Phật tử lễ bái. Ngôi đình vẫn là nơi dân làng tế Thành hoàng vào kỳ lễ hội. Đền, phủ thờ Mẫu vẫn diễn ra các giá hầu đồng với cung văn, thanh đồng, con nhang đệ tử. Giá trị của loại di tích này vì thế không chỉ nằm ở bộ khung gỗ, bức chạm hay pho tượng, mà ở mối quan hệ sống động giữa công trình, nghi lễ và cộng đồng thực hành.

Hai di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh là Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (năm 2012)[8] và Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (năm 2016)[9] cho thấy rõ điều này. Không thể hiểu tín ngưỡng thờ Hùng Vương nếu tách nó khỏi hệ thống đền trên núi Nghĩa Lĩnh và nhiều nơi thờ Hùng Vương ở các làng quê; cũng không thể mô tả thực hành thờ Mẫu nếu chỉ chụp ảnh kiến trúc các phủ, điện mà bỏ qua lịch lễ, hệ thống điện thần, các giá hầu và lời văn chầu. Ở loại di sản này, vật thể và phi vật thể gắn với nhau như hình với bóng.
Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã thể hiện một phần nhận thức ấy khi xác lập nguyên tắc “tôn trọng quyền của chủ thể di sản văn hóa phi vật thể và nghệ nhân di sản văn hóa phi vật thể”, theo đó chủ thể và nghệ nhân có quyền quyết định những yếu tố cần bảo vệ, hình thức và mức độ phát huy giá trị di sản[10]. Luật cũng nghiêm cấm việc lợi dụng di sản văn hóa để trục lợi hoặc thờ tự, thực hành tín ngưỡng trái pháp luật[11]. Nếu chuyển những nguyên tắc ấy vào lĩnh vực dữ liệu, có thể rút ra một hệ quả thực tiễn: hệ thống dữ liệu chỉ ghi kiến trúc và hiện vật sẽ bỏ sót phần cốt lõi của di sản; dữ liệu về di tích tín ngưỡng, tôn giáo phải tích hợp được thông tin vật thể, phi vật thể và thông tin về chủ thể thực hành, và chính chủ thể ấy phải có tiếng nói trong việc ghi chép, công bố những gì thuộc về mình.
2.2. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về nguồn lực tôn giáo và chuyển đổi số
Khái niệm “nguồn lực tôn giáo” đã đi vào văn kiện của Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII yêu cầu “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”[12]. Nguồn lực ấy trước hết là các giá trị văn hóa, đạo đức, tri thức mà các tôn giáo tích lũy qua nhiều thế hệ, và hệ thống di tích là nơi chúng hiện diện hữu hình nhất.
Song song với đó là định hướng chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, mở đường cho việc coi dữ liệu là một loại tài sản cần được khai thác có hiệu quả[13]. Nghị quyết số 80-NQ/TW năm 2026 đưa định hướng này vào lĩnh vực văn hóa, với yêu cầu “chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể”, xây dựng và khai thác hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, bảo đảm “an ninh, chủ quyền văn hóa số”. Ở tầng chính sách, Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 xác định mục tiêu 100% di sản được UNESCO ghi danh, 100% di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia và di sản trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được số hóa, còn các di tích quốc gia được ưu tiên số hóa theo nhu cầu sử dụng của xã hội[14].
Về pháp luật, khoản 4 Điều 85 Luật Di sản văn hóa năm 2024 cho phép cơ quan, tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa theo phạm vi được giao, với điều kiện phải tích hợp, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia. Nghị định số 308/2025/NĐ-CP ngày 28/11/2025, có hiệu lực từ ngày 15/01/2026, tiếp tục yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, phân cấp việc xây dựng, cập nhật và bảo đảm kết nối, liên thông thống nhất[15]. Luật Dữ liệu năm 2024 phân loại dữ liệu theo tính chất chia sẻ thành dữ liệu dùng chung, dữ liệu dùng riêng và dữ liệu mở, theo mức độ quan trọng thành dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng và dữ liệu khác, đồng thời cho phép chủ quản dữ liệu phân loại theo tiêu chí khác[16]. Ở phía pháp luật tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ghi nhận quyền của tổ chức tôn giáo đối với cơ sở tôn giáo và các hoạt động tôn giáo hợp pháp[17]. Như vậy, khung pháp lý đã có đủ chất liệu cho một mô hình dữ liệu đa chủ thể; điều còn thiếu là một thiết kế cụ thể kết nối chúng.
2.3. Các nguyên tắc quản trị dữ liệu FAIR và CARE
Trong khoa học dữ liệu quốc tế, bộ nguyên tắc FAIR, theo đó dữ liệu cần có thể tìm thấy (Findable), có thể truy cập (Accessible), có thể liên thông (Interoperable) và có thể tái sử dụng (Reusable), đã trở thành chuẩn mực phổ biến trong quản lý dữ liệu nghiên cứu[18]. FAIR giải quyết tốt câu hỏi kỹ thuật như mã định danh bền vững, chuẩn siêu dữ liệu chung, khả năng kết nối giữa các hệ thống, nhưng gần như im lặng trước một câu hỏi khác: dữ liệu ấy thuộc về ai, ai được quyết định việc công bố, và lợi ích từ dữ liệu được phân chia ra sao.
Bộ nguyên tắc CARE về quản trị dữ liệu của các cộng đồng bản địa ra đời để lấp khoảng trống đó, với bốn trụ cột: lợi ích tập thể (Collective benefit), quyền kiểm soát (Authority to control), trách nhiệm (Responsibility) và đạo đức (Ethics)[19]. CARE được xây dựng cho bối cảnh các dân tộc bản địa ở Bắc Mỹ, châu Đại Dương, nên không thể áp dụng nguyên xi vào Việt Nam. Điều có giá trị tham chiếu là tinh thần của nó: dữ liệu về nghi lễ, tri thức tâm linh và đời sống của một cộng đồng tín đồ không nên bị xem đơn thuần là “tài nguyên” để khai thác, mà cần được quản trị trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của cộng đồng ấy. Tinh thần này tương thích với nguyên tắc tôn trọng chủ thể di sản trong Luật Di sản văn hóa năm 2024 và với việc pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân xếp quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng vào loại dữ liệu nhạy cảm. Kết hợp FAIR với CARE, tức là mở và liên thông về kỹ thuật nhưng tôn trọng chủ thể về đạo đức, là điểm xuất phát lý luận của mô hình được đề xuất dưới đây.
2.4. Từ cơ sở dữ liệu đến hệ sinh thái dữ liệu
Cần phân biệt hai khái niệm thường được dùng lẫn với nhau. Cơ sở dữ liệu là một tập hợp dữ liệu có cấu trúc, thường do một chủ thể xây dựng, sở hữu và vận hành. Hệ sinh thái dữ liệu là một mạng lưới gồm nhiều chủ thể, nhiều nguồn dữ liệu và nhiều dịch vụ, được kết nối với nhau bằng các chuẩn kỹ thuật chung và các quy tắc quản trị được thỏa thuận, trong đó mỗi chủ thể vừa đóng góp vừa được hưởng lợi. Với một đối tượng vốn đa ngành và đa chủ thể như di tích tín ngưỡng, tôn giáo, cách tiếp cận hệ sinh thái hợp lý hơn việc dồn mọi thứ vào một cơ sở dữ liệu tập trung do một cơ quan độc quyền quản lý.
Gắn với chủ đề nguồn lực, cần nói rõ rằng tự thân dữ liệu chưa phải là nguồn lực. Dữ liệu chỉ trở thành nguồn lực khi được tổ chức, kết nối và đưa vào phục vụ những mục tiêu cụ thể: bảo tồn công trình, quản lý lễ hội, giáo dục truyền thống, nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch. Hệ sinh thái dữ liệu vì thế đóng vai trò cầu nối giữa di sản và phát triển. Nó không thay thế tổ chức tôn giáo, ban quản lý di tích hay cộng đồng làng xã, những thiết chế đã gìn giữ di tích qua nhiều thế kỷ, mà bổ sung cho các thiết chế ấy năng lực hoạt động trong môi trường số. Theo nghĩa đó, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu cũng là một cách phát huy truyền thống. Những hiểu biết về di tích vốn được lưu giữ trong trí nhớ các cụ cao niên, trong văn bia, sắc phong, thần tích, hương ước, gia phả, nay có cơ hội được ghi lại bền vững hơn và đến được với thế hệ trẻ.
3. Thực trạng dữ liệu về di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
3.1. Những kết quả bước đầu
Trong khoảng hai thập niên gần đây, ngành văn hóa đã có nhiều nỗ lực số hóa di sản: kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di tích, xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, ứng dụng quét ba chiều và tham quan ảo ở một số di tích tiêu biểu. Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 lần đầu đặt ra các chỉ tiêu định lượng cho việc số hóa, và Nghị quyết số 80-NQ/TW đã rút ngắn mốc hoàn thành số hóa các di sản xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt xuống năm 2026.

Các tổ chức tôn giáo cũng chủ động hơn trong môi trường số. Nhiều giáo hội, giáo phận, hội thánh đã có cổng thông tin, trang mạng xã hội giới thiệu cơ sở thờ tự, lịch lễ và hoạt động xã hội; không ít ngôi chùa, nhà thờ tự số hóa kinh sách, tư liệu. Ở lĩnh vực tài chính, Thông tư số 04/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính đã tạo khuôn khổ cho việc quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích theo hướng công khai, minh bạch[20]; việc tiếp nhận công đức qua tài khoản ngân hàng và mã QR tại di tích ngày càng phổ biến. Những kết quả đó tạo nền móng ban đầu, nhưng mới dừng ở từng mảng riêng rẽ.
3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Hạn chế dễ nhận thấy nhất là dữ liệu phân tán và thiếu liên thông. Thông tin về cùng một di tích có thể nằm ở bốn, năm nơi, theo những định dạng khác nhau, không có mã định danh chung để nối lại. Hồ sơ xếp hạng ở ngành văn hóa thường không liên kết với dữ liệu về tổ chức tôn giáo, chức sắc phụ trách và sinh hoạt tôn giáo tại chính cơ sở đó. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính năm 2025, khi cả nước còn 34 tỉnh, thành phố và không tổ chức cấp huyện, càng làm lộ rõ nhược điểm của cách định vị di tích theo địa danh hành chính: cùng một ngôi đình, trong hồ sơ cũ thuộc một huyện, nay đã thuộc một xã mới với tên gọi khác.
Hạn chế thứ hai nằm ở cơ cấu dữ liệu. Các hoạt động số hóa chủ yếu tập trung vào kiến trúc, hiện vật và hình ảnh, những thứ có thể đo vẽ, chụp ảnh. Dữ liệu về nghi lễ, lễ hội, tri thức dân gian, lịch sử truyền thừa, về những người đang trực tiếp thực hành và giữ gìn di sản thì rất mỏng. Một ngôi đền thờ Mẫu có thể được số hóa rất đẹp về kiến trúc, nhưng người xem không biết đền thờ những vị nào, mở hội ngày nào, ai là thủ nhang đời trước. Phần “sống” của di sản, vốn là lý do để di tích được xếp hạng, lại vắng mặt trong hồ sơ số.
Hạn chế thứ ba là vai trò của tổ chức tôn giáo và cộng đồng chưa được xác định. Các chương trình số hóa chủ yếu do cơ quan nhà nước thực hiện theo hướng từ trên xuống. Tổ chức tôn giáo, ban quản lý di tích cấp cơ sở, ban khánh tiết đình làng chưa có kênh chính thức để đóng góp, hiệu đính hay đề nghị điều chỉnh thông tin về di sản của chính họ. Điều 32 Luật Di sản văn hóa năm 2024 quy định về tổ chức, người đại diện được giao quản lý, sử dụng di tích nhưng không nhắc trực tiếp đến tổ chức tôn giáo[21], trong khi trên thực tế, với nhiều ngôi chùa, nhà thờ là di tích, chính tổ chức tôn giáo là chủ thể quản lý và sử dụng hằng ngày.
Hạn chế thứ tư là chưa có quy tắc đối với dữ liệu nhạy cảm. Một số nghi thức, không gian thiêng, tư liệu nội bộ của tổ chức tôn giáo không phù hợp để công khai rộng rãi. Dữ liệu cá nhân của chức sắc, tín đồ, người công đức cần được bảo vệ, nhất là khi pháp luật đã xếp quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng vào loại dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Thiếu quy tắc phân loại, người làm công tác số hóa dễ rơi vào một trong hai thái cực: hoặc không chia sẻ gì cho an toàn, hoặc công khai tràn lan và gây tổn thương cho cộng đồng.
Hạn chế thứ năm, có lẽ đáng lo ngại nhất trong môi trường mạng, là tình trạng thương mại hóa và sai lệch thông tin. Thông tin về di tích tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thường bị khai thác theo hướng quảng cáo dịch vụ tâm linh, “tour” cầu tài lộc, giải hạn, thậm chí thêu dệt hoặc xuyên tạc lịch sử, giá trị của di tích. Khi thiếu nguồn dữ liệu chính thống, dễ tiếp cận, khoảng trống ấy sẽ bị những thông tin như vậy lấp đầy.
Nguyên nhân của các hạn chế nói trên có thể quy về ba điểm. Một là tư duy quản lý theo ngành dọc, mỗi cơ quan xây dựng dữ liệu phục vụ nhu cầu quản lý của mình. Hai là quan niệm di tích chủ yếu như một “đối tượng vật thể” cần bảo quản, chưa coi trọng đúng mức chiều kích phi vật thể và chủ thể. Ba là sự thiếu vắng một khung quy tắc chung về chia sẻ dữ liệu giữa Nhà nước, tổ chức tôn giáo và cộng đồng. Nguyên nhân thứ ba thuộc về thể chế, và cũng là chỗ mô hình hệ sinh thái dữ liệu có thể đóng góp nhiều nhất.
4. Mô hình hệ sinh thái dữ liệu số về di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Từ những phân tích trên, chúng tôi đề xuất một mô hình hệ sinh thái dữ liệu gồm bốn tầng.
4.1. Tầng thứ nhất: hạ tầng định danh và dữ liệu nền
Nền móng của hệ sinh thái là một hệ thống mã định danh thống nhất, cấp cho mỗi di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và được mọi chủ thể dùng chung. Gắn với mã định danh là một nhóm dữ liệu nền tối thiểu: các tên gọi của di tích (tên chính thức, tên chữ Hán, chữ Nôm, tên dân gian), vị trí địa lý theo tọa độ và ranh giới khu vực bảo vệ trên bản đồ số, đơn vị hành chính cùng lịch sử thay đổi địa giới, cấp xếp hạng, loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và chủ thể quản lý. Mã định danh phải ổn định, không thay đổi khi địa danh hành chính thay đổi. Đây là điều kiện để các nguồn dữ liệu khác nhau “nhận ra” nhau và kết nối được, đáp ứng yêu cầu có thể tìm thấy và có thể liên thông trong bộ nguyên tắc FAIR.
4.2. Tầng thứ hai: các phân hệ dữ liệu chuyên ngành
Trên nền mã định danh, dữ liệu được tổ chức thành các phân hệ, mỗi phân hệ do chủ thể có thẩm quyền hoặc có hiểu biết tương ứng chủ trì. Phân hệ di sản vật thể do ngành văn hóa chủ trì, gồm hồ sơ khoa học, hồ sơ xếp hạng, bản vẽ kiến trúc, mô hình ba chiều, hiện vật và bảo vật quốc gia, tình trạng bảo quản, lịch sử tu bổ. Phân hệ di sản phi vật thể do ngành văn hóa phối hợp với cộng đồng và tổ chức tôn giáo xây dựng, gồm nghi lễ, lễ hội, tri thức dân gian, văn bản Hán Nôm như sắc phong, thần tích, văn bia, câu đối, cùng âm nhạc nghi lễ và thông tin về nghệ nhân. Phân hệ tôn giáo do tổ chức tôn giáo phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo xây dựng, gồm thông tin về tổ chức tôn giáo chủ quản, chức sắc, nhà tu hành phụ trách, lịch sử truyền thừa và sinh hoạt tôn giáo định kỳ. Phân hệ tài chính và lễ hội do ban quản lý di tích và chính quyền cấp xã chủ trì, gồm kế hoạch lễ hội, số liệu tổng hợp về công đức, tài trợ và việc sử dụng theo yêu cầu công khai của Thông tư số 04/2023/TT-BTC. Phân hệ tư liệu nghiên cứu do các viện nghiên cứu, trường đại học chủ trì, gồm công trình khoa học, ảnh tư liệu lịch sử, bản dịch văn bản Hán Nôm và kết quả điền dã.
Điểm cần nhấn mạnh là các phân hệ không nhất thiết phải đặt chung trên một máy chủ. Chúng có thể do các chủ thể khác nhau lưu giữ, miễn là cùng dùng chuẩn siêu dữ liệu chung và kết nối với nhau qua mã định danh. Cách tổ chức phân tán nhưng liên thông này giảm bớt lo ngại của tổ chức tôn giáo về việc phải “giao nộp” toàn bộ dữ liệu cho một cơ quan bên ngoài.

4.3. Tầng thứ ba: các dịch vụ dữ liệu
Hệ sinh thái chỉ tạo ra nguồn lực khi dữ liệu được đưa vào sử dụng thông qua các dịch vụ dành cho những nhóm người dùng khác nhau. Với cơ quan quản lý nhà nước, đó là công cụ hỗ trợ thẩm định dự án tu bổ, theo dõi tình trạng di tích, quản lý lễ hội và việc công khai tiền công đức. Với tổ chức tôn giáo và cộng đồng, đó là công cụ quản lý tài sản, tư liệu nội bộ, lịch sinh hoạt, cùng các ấn phẩm số giới thiệu di tích, phục vụ giáo dục truyền thống cho tín đồ và thế hệ trẻ. Với công chúng và du khách, đó là cổng thông tin chính thống, bản đồ số, tham quan ảo, thuyết minh đa ngôn ngữ, giúp định hướng du lịch văn hóa – tâm linh lành mạnh và cung cấp nguồn đối chứng trước thông tin sai lệch. Với giới nghiên cứu và nhà trường, đó là quyền truy cập dữ liệu mở có điều kiện, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, văn hóa địa phương, phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đến năm 2030 toàn bộ học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tham gia giáo dục nghệ thuật, di sản.
4.4. Tầng thứ tư: cơ chế quản trị đồng chủ thể
Tầng quản trị xác định ai có quyền gì đối với dữ liệu nào. Chúng tôi đề xuất ba nguyên tắc vận hành.
Nguyên tắc đầu tiên là đồng chủ thể. Mỗi phân hệ có một chủ thể chịu trách nhiệm chính về chất lượng và tính xác thực của dữ liệu. Tổ chức tôn giáo và cộng đồng có quyền tham gia đóng góp, hiệu đính và đề nghị điều chỉnh thông tin về di tích và thực hành của mình. Đây là hệ quả trực tiếp của nguyên tắc tôn trọng chủ thể di sản ở khoản 7 Điều 6 Luật Di sản văn hóa và của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bảo đảm.
Nguyên tắc thứ hai là phân loại mức độ truy cập. Dựa trên cách phân loại theo tính chất chia sẻ của Điều 13 Luật Dữ liệu, dữ liệu về di tích tín ngưỡng, tôn giáo có thể được chia thành ít nhất ba mức. Mức mở công khai gồm thông tin giới thiệu, lịch sử, kiến trúc, lễ hội công cộng. Mức chia sẻ có điều kiện gồm hồ sơ kỹ thuật chi tiết, tư liệu nghiên cứu chưa công bố, số liệu tài chính tổng hợp. Mức hạn chế gồm những nghi thức mà tổ chức tôn giáo hoặc cộng đồng không cho phép ghi hình, công bố, tư liệu nội bộ và dữ liệu cá nhân, đặc biệt là dữ liệu thể hiện quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng của từng người. Việc xếp một loại dữ liệu vào mức nào cần có ý kiến của tổ chức tôn giáo và cộng đồng, không thể do cơ quan số hóa tự quyết.
Nguyên tắc thứ ba là chia sẻ lợi ích. Giá trị gia tăng từ dữ liệu, như sản phẩm du lịch, ấn phẩm văn hóa, hình ảnh quảng bá, cần được chia sẻ hợp lý với cộng đồng và tổ chức tôn giáo. Lợi ích ấy không nhất thiết là tiền, mà có thể là quyền sử dụng miễn phí dữ liệu cho mục đích tôn giáo, giáo dục hay sự ưu tiên nguồn lực tu bổ. Đây là cách cụ thể hóa nguyên tắc lợi ích tập thể của CARE, đồng thời là động lực để cộng đồng tham gia lâu dài thay vì chỉ cung cấp thông tin một lần khi có đoàn số hóa về làm việc.
4.5. Thử hình dung mô hình vận hành tại một di tích
Để làm rõ cách mô hình vận hành, có thể hình dung một ngôi đền thờ Mẫu là di tích quốc gia, nằm trong không gian của Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Di tích được cấp một mã định danh duy nhất. Ngành văn hóa cập nhật hồ sơ xếp hạng, bản vẽ, mô hình ba chiều và hiện vật tiêu biểu. Ban quản lý di tích cùng thủ nhang, đồng đền và các nghệ nhân hát văn đóng góp vào phân hệ phi vật thể thông tin về lịch nghi lễ, hệ thống điện thần, các giá hầu, bản văn chầu; những nghi thức mà cộng đồng thực hành không muốn công khai được đánh dấu ở mức hạn chế. Ban quản lý cập nhật vào phân hệ tài chính số liệu tổng hợp về công đức và kết quả sử dụng, được công khai định kỳ theo quy định. Các nhà nghiên cứu bổ sung bản dịch văn bia, sắc phong, thần tích.
Từ nguồn dữ liệu chung ấy, cơ quan quản lý theo dõi được tình trạng di tích và việc chấp hành quy định về lễ hội, công đức. Cộng đồng thực hành có một kho tư liệu để trao truyền cho lớp đệ tử sau. Du khách tiếp cận thông tin chính thống về giá trị di sản, nhờ đó các hiện tượng trục lợi, mê tín khó có đất sống hơn. Khi trên mạng xã hội xuất hiện thông tin sai lệch về ngôi đền, cổng thông tin chính thống trở thành nguồn đối chứng đáng tin cậy. Một khối dữ liệu, qua đó, chuyển hóa thành nhiều dạng nguồn lực: nguồn lực cho quản lý, cho giáo dục, cho văn hóa – du lịch và cả nguồn lực niềm tin xã hội.
4.6. Những rủi ro cần lường trước
Nhận diện sớm rủi ro cũng là một phần của thiết kế. Rủi ro thứ nhất là “hành chính hóa” đời sống tín ngưỡng, tôn giáo: nếu việc cập nhật dữ liệu trở thành một thủ tục bắt buộc nặng nề, hoặc dữ liệu bị dùng vượt quá mục đích ban đầu, cơ sở tôn giáo và cộng đồng sẽ coi hệ thống như một công cụ kiểm soát hơn là một dịch vụ. Rủi ro thứ hai là “đóng băng” di sản: khi một phiên bản mô tả nghi lễ được ghi vào hệ thống và mặc nhiên được coi là chuẩn, sự đa dạng vốn có của thực hành tín ngưỡng giữa các địa phương, các dòng truyền thừa có thể bị lấn át. Rủi ro thứ ba thuộc về an toàn thông tin, nhất là với dữ liệu về hiện vật quý hiếm, vốn có thể bị kẻ gian lợi dụng, và với dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Rủi ro thứ tư là thiếu bền vững, khi hệ thống được dựng lên bằng một nguồn kinh phí ngắn hạn rồi bỏ đó, không ai cập nhật. Việc thiết kế mô hình theo hướng đồng chủ thể, phân loại truy cập và chia sẻ lợi ích chính là để giảm thiểu những rủi ro này; tuy nhiên, chúng chỉ thực sự được kiểm soát khi có các giải pháp thể chế đi kèm.
5. Giải pháp thực hiện
Một là, hoàn thiện khung pháp lý và hướng dẫn chuyên ngành. Khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành các văn bản hướng dẫn về cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa theo Điều 85 Luật Di sản văn hóa và Nghị định số 308/2025/NĐ-CP, cần có quy định riêng cho di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm mã định danh thống nhất, danh mục phân hệ dữ liệu, cơ chế phối hợp giữa ngành văn hóa, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo và tổ chức tôn giáo, cùng quy tắc phân loại dữ liệu nhạy cảm. Quy tắc phân loại này cần dẫn chiếu đồng thời Điều 13 Luật Dữ liệu và các quy định về dữ liệu cá nhân nhạy cảm của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025[22] và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP, để tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách. Khi hướng dẫn Điều 32 Luật Di sản văn hóa, cũng nên làm rõ vị trí của tổ chức tôn giáo với tư cách chủ thể quản lý, sử dụng di tích.
Hai là, xây dựng bộ chuẩn kỹ thuật chung. Cần ban hành bộ chuẩn siêu dữ liệu cho di tích tín ngưỡng, tôn giáo, tương thích với chuẩn của cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa và với các chuẩn quốc tế phổ biến trong lĩnh vực di sản. Bộ chuẩn phải hỗ trợ đầy đủ chữ Hán, chữ Nôm và chữ viết của các dân tộc thiểu số, bởi phần lớn tư liệu gốc về di tích, như sắc phong, thần tích, văn bia, kinh sách, được viết bằng các văn tự này. Việc xây dựng chuẩn cần có sự tham gia của các nhà nghiên cứu Hán Nôm, tôn giáo học, dân tộc học.
Ba là, triển khai thí điểm theo loại hình trước khi nhân rộng. Có thể chọn ba nhóm di tích để thí điểm: di tích gắn với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, nơi đã có hồ sơ UNESCO và mạng lưới di tích tương đối rõ; một số ngôi chùa là di tích quốc gia đặc biệt, thực hiện với sự phối hợp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; và một số đình làng tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi vai trò của cộng đồng làng xã nổi bật. Kết quả thí điểm cần được đánh giá độc lập, cả về kỹ thuật lẫn mức độ chấp nhận của tổ chức tôn giáo và cộng đồng.
Bốn là, nâng cao năng lực cho các chủ thể ở cơ sở. Ban quản lý di tích cấp xã, nhà tu hành phụ trách cơ sở tôn giáo, ban khánh tiết đình làng hiểu di tích nhất nhưng thường thiếu kỹ năng số, nên cần được bồi dưỡng kỹ năng thu thập, cập nhật dữ liệu và sử dụng các dịch vụ số. Có thể huy động thanh niên, sinh viên các ngành văn hóa, lịch sử, Hán Nôm tham gia số hóa tư liệu theo hình thức tình nguyện có hướng dẫn chuyên môn; đây cũng là dịp để thế hệ trẻ tiếp xúc trực tiếp với truyền thống của quê hương.
Năm là, huy động nguồn lực xã hội hóa có kiểm soát. Điều 87 Luật Di sản văn hóa năm 2024 khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản, trong đó có việc xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa, và cho phép các chủ thể tham gia được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật[23]. Đây là căn cứ để thu hút tổ chức tôn giáo, doanh nghiệp công nghệ, quỹ văn hóa cùng đầu tư, bên cạnh ngân sách nhà nước và nguồn chi cho văn hóa mà Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu tăng dần. Đi kèm với xã hội hóa phải là cơ chế bảo đảm dữ liệu không bị khai thác vì mục đích thương mại trái với giá trị của di sản, chẳng hạn các điều khoản hạn chế sử dụng trong thỏa thuận cung cấp dữ liệu, hoặc yêu cầu ghi nguồn và xin phép đối với dữ liệu ở mức chia sẻ có điều kiện.
6. Kết luận
Di tích là cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo chiếm một phần rất lớn trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam, và là nơi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc vẫn đang được thực hành chứ không chỉ được lưu giữ. Tính “sống”, sự gắn kết giữa vật thể và phi vật thể, tính đa chủ thể và tính thiêng của loại di sản này đòi hỏi một cách tiếp cận riêng trong chuyển đổi số. Khung pháp luật và chính sách hiện hành đã tạo ra những điều kiện thuận lợi, song chưa tính đến đầy đủ những đặc thù ấy.
Mô hình hệ sinh thái dữ liệu bốn tầng mà bài viết đề xuất, gồm hạ tầng định danh, các phân hệ dữ liệu chuyên ngành, các dịch vụ dữ liệu và cơ chế quản trị đồng chủ thể, dựa trên sự kết hợp giữa yêu cầu kỹ thuật của bộ nguyên tắc FAIR và tinh thần tôn trọng chủ thể của bộ nguyên tắc CARE. Mục đích của mô hình là chuyển một khối di sản phong phú nhưng phân tán thành một nguồn lực số có kết nối, đáng tin cậy và được chia sẻ công bằng, phục vụ cùng lúc quản lý nhà nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng, giáo dục truyền thống, nghiên cứu khoa học và phát triển văn hóa – du lịch. Mô hình cần được kiểm nghiệm qua thí điểm, nhưng hướng đi, theo chúng tôi, là rõ ràng: chỉ khi tổ chức tôn giáo và cộng đồng thực sự trở thành chủ thể của dữ liệu về di sản của mình, chuyển đổi số mới góp phần phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tăng cường nguồn lực tín ngưỡng, tôn giáo cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
- Báo Sài Gòn Giải Phóng, (2026), “Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam”, Báo Sài Gòn Giải Phóng điện tử, https://www.sggp.org.vn/nghi-quyet-so-80-nqtw-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-post833318.html, ngày đăng 14/01/2026, ngày truy cập 08/10/2026.
- Bộ Chính trị, (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
- Bộ Chính trị, (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
- Bộ Tài chính, (2023), Thông tư số 04/2023/TT-BTC ngày 19/01/2023 hướng dẫn quản lý thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội, Hà Nội.
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (2025), “Tài liệu giới thiệu Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15”, Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, https://bvhttdl.mediacdn.vn/document/2025/1/15/tai-lieu-gioi-thieu-luat-dsvh-17369287008482036391379.pdf, ngày đăng 15/01/2025, ngày truy cập 08/10/2026.
- Chính phủ, (2023), Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội.
- Chính phủ, (2025), Nghị định số 308/2025/NĐ-CP ngày 28/11/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa, Hà Nội.
- Chính phủ, (2025), Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hà Tùng Long, (2016), “Tín ngưỡng thờ Mẫu chính thức trở thành Di sản của nhân loại”, Dân trí, https://dantri.com.vn/van-hoa/tin-nguong-tho-mau-chinh-thuc-tro-thanh-di-san-cua-nhan-loai-20161201225928026.htm, ngày đăng 01/12/2016, ngày truy cập 08/10/2026.
- Phương Anh, (2023), “Ra mắt sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, VTC News, https://vtcnews.vn/ra-mat-sach-trang-ton-giao-va-chinh-sach-ton-giao-o-viet-nam-ar746952.html, ngày đăng 09/03/2023, ngày truy cập 08/10/2026.
- Quốc hội, (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016, Hà Nội.
- Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội.
- Quốc hội, (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Hà Nội.
- Quốc hội, (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025, Hà Nội.
- Thiên Điểu, (2025), “Việt Nam đang có hàng vạn di tích được xếp hạng, hơn 300 bảo vật quốc gia”, Tuổi Trẻ Online, https://tuoitre.vn/viet-nam-dang-co-hang-van-di-tich-duoc-xep-hang-hon-300-bao-vat-quoc-gia-20251223184007351.htm, ngày đăng 23/12/2025, ngày truy cập 08/10/2026.
- Thủ tướng Chính phủ, (2021), Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
- Trần Quang Vinh, (2026), “Tự do tôn giáo ở Việt Nam – Những con số không biết dối lừa”, VietnamPlus, https://www.vietnamplus.vn/tu-do-ton-giao-o-viet-nam-nhung-con-so-khong-biet-doi-lua-post1099635.vnp, ngày đăng 18/03/2026, ngày truy cập 08/10/2026.
- Carroll, Stephanie Russo và cộng sự, (2020), “The CARE Principles for Indigenous Data Governance”, Data Science Journal, tập 19, số 1, bài 43, https://doi.org/10.5334/dsj-2020-043, ngày đăng 04/11/2020, ngày truy cập 08/10/2026.
- UNESCO, (2012), “Worship of Hùng kings in Phú Thọ”, UNESCO Intangible Cultural Heritage, https://ich.unesco.org/en/RL/worship-of-hung-kings-in-phu-tho-00735, Quyết định 7.COM 11.36 năm 2012, ngày truy cập 08/10/2026.
- Wilkinson, Mark D. và cộng sự, (2016), “The FAIR Guiding Principles for Scientific Data Management and Stewardship”, Scientific Data, tập 3, bài 160018, https://doi.org/10.1038/sdata.2016.18, ngày đăng 15/03/2016, ngày truy cập 08/10/2026.
[1] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (2025), “Tài liệu giới thiệu Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15”, Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, https://bvhttdl.mediacdn.vn/document/2025/1/15/tai-lieu-gioi-thieu-luat-dsvh-17369287008482036391379.pdf, ngày đăng 15/01/2025, ngày truy cập 08/10/2026.
[2] Thiên Điểu, (2025), “Việt Nam đang có hàng vạn di tích được xếp hạng, hơn 300 bảo vật quốc gia”, Tuổi Trẻ Online, https://tuoitre.vn/viet-nam-dang-co-hang-van-di-tich-duoc-xep-hang-hon-300-bao-vat-quoc-gia-20251223184007351.htm, ngày đăng 23/12/2025, ngày truy cập 08/10/2026.
[3] Phương Anh, (2023), “Ra mắt sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, VTC News, https://vtcnews.vn/ra-mat-sach-trang-ton-giao-va-chinh-sach-ton-giao-o-viet-nam-ar746952.html, ngày đăng 09/03/2023, ngày truy cập 08/10/2026. Một số nguồn khác dẫn lại Sách trắng với con số 29.890 cơ sở thờ tự, xem: Trần Quang Vinh, (2026), “Tự do tôn giáo ở Việt Nam – Những con số không biết dối lừa”, VietnamPlus, https://www.vietnamplus.vn/tu-do-ton-giao-o-viet-nam-nhung-con-so-khong-biet-doi-lua-post1099635.vnp, ngày đăng 18/03/2026, ngày truy cập 08/10/2026.
[4] Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội, Điều 85.
[5] Quốc hội, (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Hà Nội.
[6] Chính phủ, (2025), Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Hà Nội, điểm b khoản 1 Điều 4.
[7] Bộ Chính trị, (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội. Nội dung trích theo toàn văn đăng tải trên: Báo Sài Gòn Giải Phóng, (2026), “Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam”, Báo Sài Gòn Giải Phóng điện tử, https://www.sggp.org.vn/nghi-quyet-so-80-nqtw-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-post833318.html, ngày đăng 14/01/2026, ngày truy cập 08/10/2026.
[8] UNESCO, (2012), “Worship of Hùng kings in Phú Thọ”, UNESCO Intangible Cultural Heritage, https://ich.unesco.org/en/RL/worship-of-hung-kings-in-phu-tho-00735, Quyết định 7.COM 11.36 năm 2012, ngày truy cập 08/10/2026.
[9] Hà Tùng Long, (2016), “Tín ngưỡng thờ Mẫu chính thức trở thành Di sản của nhân loại”, Dân trí, https://dantri.com.vn/van-hoa/tin-nguong-tho-mau-chinh-thuc-tro-thanh-di-san-cua-nhan-loai-20161201225928026.htm, ngày đăng 01/12/2016, ngày truy cập 08/10/2026.
[10] Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội, khoản 7 Điều 6.
[11] Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội, khoản 4 Điều 9.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 171.
[13] Bộ Chính trị, (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
[14] Thủ tướng Chính phủ, (2021), Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
[15] Chính phủ, (2025), Nghị định số 308/2025/NĐ-CP ngày 28/11/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa, Hà Nội.
[16] Quốc hội, (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Hà Nội, Điều 13.
[17] Quốc hội, (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016, Hà Nội; Chính phủ, (2023), Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội.
[18] Wilkinson, Mark D. và cộng sự, (2016), “The FAIR Guiding Principles for Scientific Data Management and Stewardship”, Scientific Data, tập 3, bài 160018, https://doi.org/10.1038/sdata.2016.18, ngày đăng 15/03/2016, ngày truy cập 08/10/2026.
[19] Carroll, Stephanie Russo và cộng sự, (2020), “The CARE Principles for Indigenous Data Governance”, Data Science Journal, tập 19, số 1, bài 43, https://doi.org/10.5334/dsj-2020-043, ngày đăng 04/11/2020, ngày truy cập 08/10/2026.
[20] Bộ Tài chính, (2023), Thông tư số 04/2023/TT-BTC ngày 19/01/2023 hướng dẫn quản lý thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội, Hà Nội.
[21] Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội, Điều 32.
[22] Quốc hội, (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025, Hà Nội.
[23] Quốc hội, (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội, Điều 87.
ThS. Lục Mạnh Hùng
Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
ThS. Khuất Việt Thường
Học viện Biên Phòng






