Sự ảnh hưởng to lớn và lâu dài của Sân khấu Nga với Sân khấu Việt Nam không thể nói hết trong một tham luận nhỏ. Nó cần có những công trình nghiên cứu lớn của cả Việt Nam và Liên bang Nga. Đã có và chắc chắn sẽ có các công trình như thế. Vì nó là thể hiện đẹp đẽ sự gắn bó kỳ lạ, keo sơn của hai nền văn hóa, tình hữu nghị vĩ đại giữa hai dân tộc được bắt nguồn vững chãi từ sự gần gũi, chia sẻ, thông cảm sâu xa rất tự nhiên của tâm hồn hai dân tộc Nga – Việt, mặc dù chúng ta cách xa nhau hàng ngàn cây số. Vì sự đồng điệu tâm hồn có một không hai đó, hai dân tộc chúng ta đã và sẽ là những người bạn vĩnh cửu mặc dù người ta thường nói trên thế giới hôm nay chỉ có những lợi ích vĩnh cửu, không có những tình bạn vĩnh cửu.

Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, với sự thống trị của người Pháp, người ta từng tưởng chỉ có văn học, sân khấu âm nhạc, hội họa Pháp độc chiếm thị trường văn hóa Việt Nam. Nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy, đồng thời với sự du nhập của văn hóa Pháp, là một phần tinh hoa của văn hóa Nga, một trong những nền văn hóa vĩ đại nhất thế giới đã đến với Việt Nam qua sự truyền bá của người Pháp. Đó là hội họa, âm nhạc, văn học Nga, kịch Nga. Hiện trong thư viện quốc gia (Đông Dương) vẫn còn lưu giữ một số tác phẩm của các nhà văn Nga nổi tiếng, trong đó có cả một số tác phẩm văn học kịch được dịch qua tiếng Pháp. Đó là những tác phẩm của Gogol, Tchekhov, Gorki.
Và sau năm 1954 cho đến nay, có thể nói hầu hết các vở kịch tầm cỡ nhân loại của nền văn học Nga của Puskin, Gogol, Ostroski, Tchekhov, Gorki, Tolstoi… đều đã được dịch thẳng từ tiếng Nga sang tiếng Việt và rất được độc giả Việt Nam yêu thích. Văn học kịch cổ điển Nga được dạy phổ biến trong các đại học ngữ văn Việt Nam. Nhiều vở kịch cổ điển Nga đã được dựng trên sân khấu những Nhà hát nổi tiếng nhất Việt Nam thu hút đông đảo khán giả.
Đặc biệt từ sau những năm 1960, trào lưu kịch Nga Xô Viết đã tràn ngập trên sân khấu Việt Nam với cả trăm kịch bản được dàn dựng thành công, được người xem Việt Nam đặc biệt yêu thích trong một thời gian dài, tiêu biểu như Liuba, Bi kịch lạc quan, Vĩnh biệt hạm đội, Người cầm súng, Chuông đồng hồ điện Krem-lin, Khúc thứ ba bi tráng, Platon Kreset, Masa, Câu chuyện Irkurk, Biên bản cuộc họp, Vụ án Erostat, Người con trai cả, Thánh của các vị thánh, Người từ một phía, Ðối mặt với mọi người, Xâm lược, Những người Nga, Lên đường may mắn, Vào đời, Người khách cuối cùng, Những con hươu xanh…
Sự xuất hiện của hai đạo diễn Nga A.Vasiliev (dựng vở kịch Liuba năm 1958) và V. Monakhov (dựng vở kịch Câu chuyện Irkurk năm 1961) tại Việt Nam đã có ý nghĩa lớn lao về phương pháp, soi sáng chặng đường đầu tiên hình thành nghề đạo diễn kịch nói trong sân khấu Việt Nam hiện đại. Sự thành công của những vở diễn Nga Xô-viết trên sân khấu Việt Nam thời đó còn là sự hòa hợp kỳ diệu giữa hai nền văn hóa và hai nền sân khấu, giữa tài năng của đạo diễn Liên Xô và sức cảm hiểu mạnh mẽ, năng lực diễn đạt tinh tế những hình tượng lớn trong sân khấu Xô-viết của những nghệ sĩ Việt Nam ưu tú.
Kể từ đó đến những năm cuối thế kỷ XX, nước Nga đã giúp Việt Nam đào tạo một đội ngũ toàn diện các chuyên gia sân khấu gồm tác giả, đạo diễn, diễn viên, họa sĩ và nhạc sĩ. Nhiều đạo diễn tên tuổi của thế hệ vàng đầu tiên sân khấu Việt Nam hiện đại đã trưởng thành từ các trường đào tạo sân khấu tại Liên Xô cũ. Ảnh hưởng về học thuyết và nguyên tắc nghệ thuật sân khấu của K. Stanislavski và G. Tovstonogov trở thành cẩm nang gối đầu giường cho nhiều thế hệ nghệ sĩ Việt Nam.
Ảnh hưởng của sân khấu Nga với sân khấu Việt Nam không chỉ nằm trong bộ môn kịch nói hiện đại mà còn góp phần quan trọng giúp của các bộ môn sân khấu truyền thống Việt Nam đổi mới, phát triển đúng đắn, hợp quy luật.
Ở đây tôi muốn nói đến vai trò đặc biệt quan trong của đạo diễn Nga V. Monakhov, người đã dựng rất thành công vở kịch nói Câu chuyện Irkurk của nhà văn Xô viết nổi tiếng Aleksei Arbuzov tại Việt Nam năm 1961.
Sau thành công lớn lao của Vasiliev và Monakhov với kịch nói Việt Nam, nhiều người Việt Nam bắt đầu coi học thuyết sân khấu thể nghiệm của K Stanislavski là đôi đũa thần vạn năng và dự định áp dụng nó để hiện đại hóa, phát triển sân khấu kịch hát truyền thống Việt Nam. Người ta đưa V. Monakhov đi xem một số vở Tuồng Chèo để xin ý kiến ông về việc áp dụng các phương pháp của Stanislavski để đổi mới hai kịch chủng đặc sắc VN này. Sau khi xem một số vở diễn của Tuồng và Chèo, Monakhov đã tự hào thốt lên: “Tuồng và Chèo, đó mãi mãi của Việt Nam. Chúng phải được đổi mới, phát triển bằng các phương pháp của chính mình. Stanislavski rất vĩ đại nhưng chỉ có thể ứng dụng cho kịch nói. Áp dụng phương pháp của Stanislavski vào kịch hát truyền thống Việt Nam nhất định sẽ phá hoại chúng”.
Lời cảnh báo mạnh mẽ, sâu sắc của Monakhov đã giúp sân khấu Việt Nam tránh được việc áp dụng một cách máy móc các phương pháp nước ngoài vào những loại hình sân khấu truyền thống. Nó đã khích lệ các nghệ sĩ Việt Nam theo đuổi sự đổi mới nhưng vẫn luôn bám rễ vững chắc vào di sản nghệ thuật của chính mình.
Chúng tôi luôn dành lòng biết ơn sâu sắc tới V. Monakhov cũng như các thế hệ nghệ sĩ sân khấu Nga đã góp phần vào sự phát triển của sân khấu Việt Nam. Những cuộc trao đổi chuyên môn, trải nghiệm nghệ thuật và đóng góp quý báu từ các chuyên gia, nghệ sĩ Nga và quốc tế đã giúp những người làm sân khấu Việt Nam hiểu rõ hơn về con đường mà sân khấu nước nhà cần đi theo: hiện đại nhưng không tách rời truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc Việt Nam.
Kết quả là, sân khấu Việt Nam đã phát triển theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc. Đặc biệt, sân khấu truyền thống Việt Nam đã có những đổi mới đáng kể, đáp ứng kỳ vọng của khán giả đương đại song song với việc bảo tồn các giá trị cốt lõi của từng loại hình truyền thống…
(Trích tham luận hội thảo tại LB Nga vừa qua)
NSND Trịnh Thúy Mùi
Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN






