Sai lầm lịch sử về một vùng đất, bắt nguồn từ một bài thơ

12:49 | 19/07/2026

Chuyện này rất hi hữu. Nghĩa là theo tôi biết, ở nước ta, dường như mới chỉ xảy ra duy nhất có 1 lần ở vùng đất Quảng Ninh hiện nay mà thôi.

Bài thơ khởi nguồn cho những sai lầm nghiêm trọng đó là bài “Phóng cuồng ca” của Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Tung) thiền sư thời Trần, bản dịch của Hòa thượng Thích Thanh Từ, như sau:

“Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang

Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương.

Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Đói thì ăn chừ cơm tùy ý

Mệt thì ngủ chừ nào có quê hương.

Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ

Chỗ lặng chừ đốt giải thoát hương.

Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỉ

Khát uống no chừ thang tiêu dao.

Qui Sơn láng giềng chừ chăn con trâu nước

Tạ Tam đồng thuyền chừ hát khúc Thương Lang.

Thăm Tào Khê chừ chào Lư Thị

Viếng Thạch Đầu chừ sánh lão Bàng.

Vui ta vui chừ Bố Đại vui

Cuồng ta cuồng chừ Phổ Hóa cuồng.

Chao! Chao! Chừ giàu sang mây nổi Năm tháng chừ cửa sổ ngựa qua.

Đi càn chừ đường quan hiểm trở Chịu sao chừ ấm lạnh tình đời.

Sâu thì xắn chừ cạn thì vén.

Dùng thì hành chừ bỏ thì tàng.

Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt

Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng. Thỏa nguyện ta chừ được sở thích

Sống chết bức nhau chừ nơi ta ngại gì?

Bài thơ này rất nổi tiếng trong thơ thiền Việt Nam, được coi như một kiệt tác. Tác giả là thiền sư Trần Tung, nhưng Bùi Huy Bích (1744 – 1818), một học giả nho giáo lớn cuối Lê đầu  Nguyễn, lại ghi nhầm tác giả là Trần Quốc Tảng.  Tất cả bắt nguồn từ sự nhầm lẫn tệ hại này, khi “Hoàng Việt thi tuyển” được xuất bản năm 1825. Tại sách này, Bùi Huy Bích đã ghi: “Trần Ninh vương Quốc Tảng là con cả của Hưng Đạo…tự đặt hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ, thường cưỡi thuyền ở khúc Cửu giang, ngâm thơ và sáng tác Phóng cuồng ca”. Chỉ hơn 2 dòng mà có đến 5 cái sai, cái sai nào cũng rất nghiêm trọng. “Ninh vương” tên tước đầy đủ là Hưng Ninh vương, vua Thánh Tông nhà Trần phong cho Tuệ Trung Thượng sĩ, sau đám tang cha ông là Trần Liễu (vì thương cảm mà phong, chứ không phải vì chiến công) năm 1251, vua Trần Nhân Tông ghi lại việc này, nhưng cũng chỉ ghi pháp danh của ông, chứ không ghi tên húy của ông là Tung (Trần Tung. Tuệ Trung Thượng sĩ (Trần Tung) là anh ruột Trần Quốc Tuấn, bác ruột Trần Quốc Tảng.

Đền Cửa Ông, Quảng Ninh.

Quốc Tảng là con thứ 3 chứ không phải là “con cả của Hưng Đạo”. Và bài “Phóng cuồng ca” là sáng tác của Tuệ Trung thượng sĩ (mà vua Trần không ghi tên húy là Tung) 1 trong 49 bài thơ của Tuệ Trung mà vua Trần Nhân Tông chép trong “Tuệ Trung thượng sĩ hành trạng” lưu truyền hằng mấy trăm năm trong nhà chùa, cùng với nhiều sách Phật. Bùi Huy Bích, cũng như nhiều nhà nho nghiêm túc khác, không đọc sách Phật in ấn và lưu hành trong nhà chùa, nên đã không biết điều rất đơn giản ấy. Hơn nữa từ cuối Trần sang Lê, nhiều nho gia bài Phật. Vua Nghệ Tông thời Trần rất tích cực bài Phật, đã đưa Trương Hán Siêu vào phối thờ ở Văn Miếu, vì Siêu bài Phật, như ĐVSKTT đã ghi. Chỉ có thế thôi.

Do Bùi Huy Bích không đọc sách Phật, không biết việc đó, nên đã đồng nhất cháu ruột Quốc Tảng với bác ruột Tuệ Trung, thành một người. Và điều này để lại di hại 200 năm, từ 1825 đến tận hôm nay (2026), vẫn chưa gỡ ra xong, nhất là ở Quảng Ninh. Vì Trần Quốc Tảng là thần chủ đền Cửa Ông, ngôi đền nổi tiếng nhất và đông khách chiêm bái nhất ở Quảng Ninh hiện nay, ngang với chùa Ba Vàng mươi năm trước.

Bùi Huy Bích có tín nhiệm rất cao ở đương thời và các đời sau, vì thế các nhà nghiên cứu các đời sau, vì quá tin ông, đã lấy luôn các ý kiến sai lầm của ông làm thành các giá trị khoa học. Lại có truyền thuyết dân gian, rất phổ biến, đến mức ai cũng biết, vì nó có trong sách giao khoa vài chục năm  – không biết ai là người đầu tiên bịa ra, là Quốc Tảng bị cha đày ải về Cửa Ông hiện nay, nơi mà Phan Phu Tiên, bạn thân của Nguyễn Trãi, ghi ở thời Nguyễn Trãi (thời Lê, trước năm 1442), là “không một ai bị đày xuống đây mà còn sống để về được”.

Con đường dẫn dắt sai lầm là như thế, thực đơn giản. Vì Trần Tung là Trần Quốc Tảng, Tĩnh Bang là của Trần Quốc Tảng, mà Tĩnh Bang bị coi là Cửa Ông bây giờ, nên Trần Quốc Tảng nghiễm nhiên thành người sống ở Cửa Ông từ thời Trần. Từ đó, các sách địa phương ở Quảng Ninh in trước, Hà Nội in sau, trong vài chục năm nay, căn cứ vào tiền đề nhầm lẫn đó, đã hoàn thành một lịch trình sai lầm rất hệ thống, rất bài bản, và ai không có tri thức khoa học lịch sử cụ thể của vùng đất này, sẽ tin ngay. Đó là Trần Quốc Tảng được phong đất ở Cửa Ông, đóng quân ở Cửa Ông (hiện nay) từ thời Trần.

ĐVSKTT ghi năm Quốc Tảng mất (1313), nhưng không ghi ông mất ở đâu, chắc là ở Thăng Long (dĩ nhiên rồi), nên không cần ghi chăng? Cũng theo ĐVSKTT, Trần Quốc Tảng suốt cuộc đời mình, chưa hề đặt chân đến vùng đất từ Đông Triều ra

đến vùng Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái bây giờ. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 và thứ 3, ông cùng cha và các anh em, đánh giặc ở mặt trận trung tâm từ Hải Dương, Kinh Bắc đến Lạng Sơn, chặn  kị binh, đạo quân xâm lăng mạnh nhất của giặc đánh thẳng vào Thăng Long, do chủ tướng giặc Thái tử sẽ nối ngôi vua Nguyên, Trấn Nam vương Thoát Hoan chỉ huy. Thời Trần, vùng biển đảo và biên cương Đông Bắc, vua Trần đã “giao hết” cho Trần Khánh Dư từ năm 1282 (ĐVSKTT, tập II, Nxb Khoa học xã hội, tháng 7/ 1967, trang 58, dòng 11 -12 từ trên xuống). Thời Trần theo chế độ phân quyền, đất đã phong cho vương này, vương khác không đến đóng quân được. Nên nhớ Quốc Tảng mất năm 1313, Khánh Dư còn sống ở Quảng Ninh đến 26 năm sau, mất năm 1339. Hơn nữa, từ thượng cổ đến nay, giặc xâm lăng phương Bắc chưa bao giờ đánh vào Thăng Long để thôn tính Việt Nam qua đường bộ Quảng Ninh, vì không có đường (trước năm 1888, người từ Cẩm Phả ra Móng Cái vẫn phải đi bằng thuyền), hơn nữa, đường Móng Cái – Thăng Long dài gấp 2 lần đường thẳng Lạng Sơn – Thăng Long), lại luôn bị sông rộng, suối lớn chia cắt. Chỉ có con đường thủy duy nhất từ cửa biển Móng Cái qua Vân Đồn vào cửa Bạch Đằng, đã có Khánh Dư trấn giữ, đóng đại bản doanh  ở “Đồn sơn lục thủy dương” (vùng nước biển rộng và xanh ở núi Đồn) như Nguyên sử (Sử nhà Nguyên) đã ghi, để phòng chống thủy binh giặc, nay là vùng biển đảo Quan Lạn, thế là đủ rồi.

(Lại một điều nữa, sử gia nhà Nguyễn khi chuyển ĐVSKTT từ chữ Hán sang chữ Việt, căn cứ vào 3 chữ “lục thủy dương” của  sử nhà Nguyên: “Đồn sơn lục thủy dương”, đã ghi chú lục thủy là sông Cửa Lục – Bãi Cháy bây giờ. Tôi đã vài lần nói không có chuyện đó (1). Nhưng một số người vẫn nhầm, cho rằng, thuyền lương Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư đánh từ Vân Đồn rồi bị đốt cháy ở Bãi Cháy – Cửa Lục, trong sử ghi là trận Vân Đồn Cửa Lục (?)).

Giặc mạnh, dùng kị binh là chính, Trần Quốc Tuấn và anh ruột (Trần Tung) cùng các con ruột (nổi bật là Trần Quốc Nghiễn (đóng quân ở Bắc Ninh) và Quốc Tảng (đóng quân ở Hải Dương) cùng con rể Phạm Ngũ Lão (đóng quân ở Nam ải Chi Lăng). Năm 2024, tôi đã đi khảo sát quanh ải Chi Lăng, có đến 6 đền, đình, miếu ở các làng xã xung quanh, thờ Ngũ Lão, tập trung chủ yếu vào tuyến đường hiểm yếu số 1 này, chống chọi sinh tử với đại quân kị (ngựa) của giặc Nguyên, do Thái tử tiết chế (Tổng Tư lệnh toàn cuộc xâm lăng) là Trần Nam vương Thoát Hoan chỉ huy.

Tháng 10 năm Quý Sửu (1913) – nhiều năm gần đây, người ta bỏ 1913 – chỉ còn Quý Sửu, để hiểu năm đó, có thể ở thời Trần (?), miếu dưới chân núi Bài Thơ  (nay là đền Trần Quốc Nghiễn ở trung tâm phường Hồng Gai), nơi có cái giếng nước ngọt ở giữa biển, đoàn thuyền ông Trần Đức Thuật lấy nước ở giếng này lên dùng, khi thuyền đi từ Bắc Ninh, hay về từ  Móng Cái – dừng lại ở đây – trong bóng núi Bài Thơ ) được  ông Trần Đức Thuật, chủ hội thuyền buôn  đường biển Bắc Ninh – Móng Cái “xây lại trong 1 ngày”, để đưa Trần Quốc Nghiễn, người đóng quân ở  Bắc Ninh, quê hương ông Thuật,  thời Trần, vào thờ ở đây, khi ấy còn ở giữa biển “trời nước hoang vu” như bia đá, ông Thuật đã ghi, hiện còn đặt trước cửa đền.  Vì Hòn Gai thờ anh (Trần Quốc Nghiễn) năm 1913, nên năm 1916, đền Cửa Ông được viên quan ba Pháp, đồng thời là chủ mỏ than Cẩm Phả, cấp tiền cho vợ xây lại ở địa điểm hiện nay (bà này họ Trần, người Hà Đông), phế bỏ luôn Hoàng Cần, vị thần truyền thuyết, thần chủ duy nhất  của ngôi miếu  này, và  đưa Trần Quốc Tảng (em ruột Trần Quốc Nghiễn) vào thờ.

Tượng Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng.

Vì Cẩm Phả đã thờ Trần Quốc Tảng năm 1916, do đó ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2 (1917) đền/chùa Xã Tắc ở Móng Cái mới đưa tiếp Trần Quốc Tảng vào phối thờ vọng. Sắc của vua nhà Nguyễn và bia đá thời Nguyễn còn ghi rành rành như thế. Vậy mà sách và báo của ta vài chục năm gần đây, cứ ghi là Trần Quốc Tảng đóng quân ở đây, chết ở đây và ở đây có đền thờ, có lăng mộ ông từ thời Trần. Đi xa hơn, Ban tổ chức Hội đền Cửa Ông và nhóm làm phim truyền hình còn ca ngợi công lao của Trần Quốc Tảng đã đánh chìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở cửa biển Vân Đồn, làm cho quân Nguyên phải rút chạy. Đây là lí do để đưa tượng Trần Quốc Tảng từ bãi than dưới chân núi lên đỉnh núi nhìn ra biển Đông – vốn là chiến công nổi tiếng bậc nhất của Vân Đồn Phó tướng Trần Khánh Dư, mà người Việt Nam không mấy ai không biết.

Đại khái cứ thế rồi tưởng tượng nhân rộng thêm  ra… như trận đánh du kích của Trần Tung ở chợ Đông Hồ (theo ghi chép của Lê Tắc phía Tây sông Cầm – tiền thân của chợ Cột bây giờ), ngày đánh phục kích, đêm quấy rối giặc, phá hủy cầu qua sông Cầm, buộc quân Nguyên do Trình Bằng (sử gia giặc chỉ ghi Trình Bằng, không có chữ Phi – Trình Bằng Phi – như ta đã ghi) và Ta – tru, dẫn đầu (ngày 3/3 năm  Mậu Tuất – 1288) phải theo đường tắt trở về,  kịp gặp quân Thoát Hoan, lúc ấy đã rút chạy đến Bắc Giang, rồi cùng rút chạy về nước. Do đó mà trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng mới được tiến hành trong bí mật, để khi nước rút, xô thuyền giặc vào bãi cọc mà tiêu diệt, 5 ngày sau, ngày 8/ 3 năm Mậu Tuất (tức 9/ 4/ 1288 –  theo “An Nam chí lược” của Lê Tắc) … cũng được ngợi ca là của Trần Quốc Tảng và cuộc chiến đấu này được dựng thành phim với 2 đạo quân kị binh nhà nghề, vó ngựa phi  rung mặt đất,  với các thước phim giáp chiến rất ác liệt, cóp nguyên xi ra, từ trường trận kị binh trong  phim “Tam quốc chí diễn nghĩa”  của Trung Quốc.

Năm 1910, trong tập truyền thuyết dân gian thời Nguyễn (truyền thuyết dân gian thì không phải là lịch sử) “Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên”, có ghi việc một ông chở gỗ trên sông Thái Bình, đến chỗ Bến Hàn ngày nay (lúc ấy là thôn Trắc Châu xã An Châu huyện Thanh Lâm, sau thuộc huyện Nam Sách, rồi phần đất này của huyện Nam Sách gần đây nhập vào TP Hải Dương ) thì bè gỗ bị ngừng lại, không sao di chuyển được. Đêm ấy, ông chở gỗ ngủ trên bè gỗ, nằm mơ, thấy một vị tướng hiện lên, nói rằng: Ta là Hưng Nhượng vương, xưa đóng quân ở đây, giờ ta để lại ở đây mấy thứ làm kỉ niệm, đó là cái mũ đá và cái phiến đá. Sáng sau, ông chở gỗ lặn xuống xem, thì quả có thế, có cái mũ đá, cái phiến đá đo được chiều dài phiến đá “dài 6 thước 4 tấc, rộng 2 thước 3 tấc”. Tập “Truyện cổ dân gian Nam Sách” của Nguyễn Hữu Phách và Nguyễn Văn Đức đã xuất bản, cũng ghi như vậy. Cái mũ và cái phiến đá trong chuyện dân gian đó, được cho là của Trần Quốc Tảng để lại, theo bài báo của tôi, Bảo tàng Hải Dương đã tìm thấy ở làng Trắc Châu huyện Thanh Lâm, thì người viết sự tích đền Cửa Ông và nhóm làm phim về Danh tướng Trần Quốc Tảng, lại khẳng định luôn rằng, làng Trắc Châu huyện Thanh Lâm (thuộc TP Hải Dương) nay chính là phường Cẩm Phú, Cửa Ông (thuộc TP Cẩm Phả) Quảng Ninh.

Nếu không đọc bằng mắt, không nghe bằng tai mình, thì không ai có thần kinh bình thường, lại tin được điều đó là có thật (lạ thay). Rồi con gái Trần Quốc Tảng, khi còn là một “cô bé” cũng đã ra “trấn giữ  biển Đông” (?!) như văn bản tuyên truyền giữa tháng 3 năm 2018,  trong Lễ hội đền  Cửa Ông Cặp Tiên, khi  di tích này được công nhận  là di tích Quốc gia Đặc biệt. Khi biết cha uất ức đã treo cổ tự tử, cô cũng nhảy xuống giếng trong đền tự tử (?), và ngôi đền Quan Chánh, thờ một ông Chánh nào đó ở thời Nguyễn, được coi là Đền Cô bé Cửa Suốt – cô bé con Trần Quốc Tảng – cặp đôi với đền Cửa Ông trong hồ sơ Di tích Quốc gia Đặc biệt. Một lần khai hội, còn thực hiện một nghi lễ mới, là múc nước giếng của Cô bé Cửa Suốt để thờ trong Lễ hội, và một số người, còn lấy nước, múc từ giếng này lên, mang về nhà mình, để thờ (lạy Chúa tôi !). Nếu không nghe bằng tai, không nhìn bằng mắt, thì không ai tin được những điều đó là những bịa tạc động trời, của đám, mà từ năm 1991, tôi đã gọi là sử thổ phỉ.

Tôi đã nghiên cứu những điều này từ năm 1963 – 1968 khi còn dạy sử trong trường phổ thông ở Quảng Ninh, rồi từ sau 1970,  tôi đã đi về đây nhiều lần, có lần được ủy nhiệm đưa Đoàn Nghiên cứu Lịch sử của Bộ Quốc phòng về khảo sát thực tế đền Cửa Ông –  đến nay đã non 60 năm và khoảng 20 30  năm trở lại đây, tôi đã viết nhiều bài báo đăng ở một số báo từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh, rồi tập hợp trong 2 tập sách “Thời gian lên tiếng” và “Đi tìm sự thật”, đã xuất bản, được các nhà khoa học ghi nhận và nhiều bạn đọc hoan nghênh, đã được tặng Giải thưởng Đào Tấn về Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Dân tộc.

Sách vừa được tái bản trong hệ thống sách “vì sự nghiệp Cách mạng của Đảng”. Một số bài báo của một vài nhà nghiên cứu đưa ra gần đây, có bài viết đại khái như lập luận của tôi, trong đó có trận phục kích theo kiểu đánh du kích của Trần Tung tại chợ Đông Hồ (Đông Triều) và tầm quan trọng của nó đối với trận Bạch Đằng mà tôi đã nói ở trên, nhưng không ghi xuất xứ. Chỉ có 1 người duy nhất là ông Nguyễn Trần Trương, nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử – rất ôn hòa – ở Uông Bí, ghi chú là những ý kiến này, lấy ra từ bài viết của nhà thơ Trần Nhuận Minh.

Tôi xin nói lại: Việc thờ Trần Quốc Tảng ở Cửa Ông (từ 1916), ở Móng Cái (từ 1917), là rất hợp lòng người, hợp ý trời, rất  được ghi nhận và hoan nghênh, nhất là của chính quyền địa phương và Ban tổ chức Lễ hội. Vì ông là Anh hùng dân tộc, trên đất nước ta thờ ông ở nơi nào cũng được, như Trần Quốc Tuấn được thờ ở TP Hồ Chí Minh, nhưng không ai nói Trần Quốc Tuấn đã đóng quân ở đây, rồi chết ở đây (như ta). Di tích lớn nói trên, đâu có vì thế mà giảm vị thế, tín nhiệm và lòng trân trọng của nhân dân khi chiêm bái vị nhân thần mà mình tôn kính thờ phụng. Và chỉ có từ sự chân thực lịch sử, mới có tác dụng giáo dục tích cực về lòng trung thực và chủ nghĩa yêu nước, cho tất cả mọi người, đặc biệt là các thế hệ trẻ.

Bắt nguồn từ một bài thơ, mà lịch sử một vùng đất, nhầm lẫn đã 200 năm ( 2026 – 1825), vẫn chưa có hồi kết dứt khoát, cũng là một điều rất lạ. Rất lạ!

Trần Nhuận Minh


Cùng chuyên mục

Rộn ràng Hội thi gói, nấu bánh chưng và giã bánh giầy dâng Vua Hùng năm 2026

Rộn ràng Hội thi gói, nấu bánh chưng và giã bánh giầy dâng Vua Hùng năm 2026

Gen Z giữ hồn di sản: Tiếng đàn Tính vang giữa lòng Thủ đô

Gen Z giữ hồn di sản: Tiếng đàn Tính vang giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Cầu mùa của người Cao Lan đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ hội Cầu mùa của người Cao Lan đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Để di sản Huế trở thành “lớp học mở” cho thế hệ trẻ

Để di sản Huế trở thành “lớp học mở” cho thế hệ trẻ

Để không gian văn hóa cồng chiêng “đại ngàn chạm biển xanh”

Để không gian văn hóa cồng chiêng “đại ngàn chạm biển xanh”

Ra mắt Không gian giới thiệu Di sản tư liệu thế giới và tài liệu lưu trữ quốc gia tiêu biểu

Ra mắt Không gian giới thiệu Di sản tư liệu thế giới và tài liệu lưu trữ quốc gia tiêu biểu