Người cha thân yêu của Lưu Quang Vũ

9:31 | 13/12/2023

Ngày ấy, tôi và anh Ngô Xuân Thông từ hai binh trạm xa xôi ác liệt nhất, mãi tận bên Lào về học, được giao cho thầy Lưu Quang Thuận, cha anh Lưu Quang Vũ “cầm tay” kỹ lưỡng học tập huấn văn nghệ, xây dựng những chương trình biểu diễn mới.

Những năm tháng chiến tranh hết sức ác liệt, từ những cung đường tả tơi vì bom đạn, gần 200 người lính vận tải quân sự vốn là những pháo thủ áo quần còn khét lẹt khói bom, những lái xe vận tải quân sự mắt quầng thâm vì những đêm không ngủ đưa hàng lên phía trước, những chiến sỹ công binh, thanh niên xung phong trên những tuyến đường dày đặc bom đạn, những chiến sỹ giao liên, cứu thương, kho vận nơi những cánh rừng xa xôi hẻo lánh sơn cùng thủy tận của đất nước… được đưa về tập huấn văn nghệ, xây dựng những chương trình biểu diễn mới để rồi một thời gian ngắn sau sẽ trở lại phục vụ ở mặt trận…

Được về Hà Nội, nói đúng hơn là về Thường Tín, lúc ấy còn thuộc tỉnh Hà Tây, ai cũng thích. Nhưng để tập huấn trở thành những “nghệ sỹ”, dù chỉ là bán chuyên nghiệp, đàn hay múa giỏi làm rung động lòng người thì chúng tôi đều hiểu là thật chẳng dễ dàng gì cho nên cũng nhiều anh “hãi”, cứ nằng nặc một hai đòi trở lại đơn vị chiến đấu.

May thay trong bối cảnh ấy, chúng tôi được gặp những người thầy – những nghệ sỹ giàu kinh nghiệm của Đoàn Văn công Tổng cục của trường nghệ thuật quân đội, của những nhà hát trung ương như Nhà hát Chèo, Nhà hát Kịch nói Trung ương, của Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam… vì yêu quý người lính mà đã đến với chúng tôi bằng tất cả trái tim và nhiệt huyết của mình. Họ là những vì sao nghệ thuật xa xôi và ngời sáng bỗng hiển hiện ngay trước mắt chúng tôi, soi ánh sáng huyền ảo của nghệ thuật vào tâm hồn những người lính để rồi một mai chúng tôi mang ánh sáng ấy tới những chân trời lửa đạn.

Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận cùng vợ và con trai Lưu Quang Vũ tại Chiến khu Việt Bắc năm 1949. Ảnh: TL

Tôi nhớ buổi đầu của lớp tập huấn, được nghe các thầy như Hà Văn Cầu, Lưu Quang Thuận, Hồ Thi, Doãn Hoàng Giang… lên lớp, ánh mắt người chiến sỹ nào cũng bừng sáng. Nhất là khi nhà thơ, nhà viết chèo Lưu Quang Thuận nói về chèo, về những năm tháng kháng chiến ông nhập ngũ như chúng tôi hiện nay, rồi tham gia Đoàn kịch Chiến Thắng đi biểu diễn cho quân và dân, rồi từ đây thấu hiểu hơn tình yêu chèo trong tâm hồn bộ đội và dân công, mà rồi ông đã đến với nghệ thuật chèo và viết nên những tác phẩm chèo xuất sắc như “Cô Giang”; “Mối tình Điện Biên”; “Tấm Cám”; “Nàng Sita” (viết chung)… Nhiều người lính chúng tôi ra đi từ những lũy tre làng, từ những cánh đồng hai sương một nắng cho nên vốn yêu chèo lắm, cứ ngồi ngây ra, say sưa theo từng lời ông nói. Bài học nghệ thuật đầu tiên ông trao cho chúng tôi là chính cuộc đời nghệ thuật của mình…

Bởi yêu cầu của cấp trên là những tiết mục sân khấu như chèo, kịch nói phải từ chính cuộc sống chiến đấu và những sự tích anh hùng của đơn vị, phải là “cây nhà lá vườn”, tự biên tự diễn, cho nên mỗi binh trạm sẽ cử ra một hai anh em vào tổ sáng tác, được các thầy Hồ Thi, Hà Văn  Cầu, Lưu Quang Thuận trực tiếp hướng dẫn.

Tôi và anh Ngô Xuân Thông từ hai binh trạm xa xôi ác liệt nhất, mãi tận bên Lào về học, được giao cho thầy Lưu Quang Thuận “cầm tay” kỹ lưỡng. Nhiệt tình với chúng tôi, nhiều đêm thầy không về nhà ở Hà Nội như những giảng viên khác, mà ở lại trong những ngôi nhà dân, ăn cơm bếp tập thể nhiều khoai nhiều sắn của lính tráng, và đêm bên ngọn đèn dầu leo lét đọc từng trang bản thảo, trao đổi kỹ lưỡng từng tình huống kịch, từng lời ăn tiếng nói của nhân vật. Có những đêm thầy say sưa quá, mãi đến tận gà gáy sáng.

Thương chúng tôi đang tuổi ăn tuổi ngủ, thầy giục chúng tôi vào buồng chợp mắt, còn thầy vẫn tiếp tục ngồi gạch gạch xóa xóa, sửa chữa cho bản thảo. Từ trong buồng trông ra, nhìn thầy bên ngọn đèn dầu đăm chiêu khắc khổ với những trang viết của chúng tôi, tôi có cảm tưởng như đấy là một vị giáo sư đang say sưa tâm huyết với những công trình sáng tạo của đời mình…

Thật ra trước khi được trại trưởng Ngọc Tự giới thiệu về thầy, rồi được thầy lên lớp giảng dạy, chúng tôi đều đã từng ít nhiều được nghe tên tuổi của thầy, có anh lại còn được mục kích xem những vở chèo do thầy sáng tác, thích lắm, khâm phục lắm. Riêng tôi còn đặc biệt yêu quý, thần tượng thầy, vì thầy chính là thân sinh của một nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ, và đang được lớp trẻ rất yêu thích là nhà thơ Lưu Quang Vũ.

Tôi nhớ cái đêm đầu thầy ở lại thức với chúng tôi, suốt cả một đêm ấy, đáp lại tình yêu mến của chúng tôi với thơ Lưu Quang Vũ, thầy đã kể chúng tôi nghe rất nhiều về thơ ca và cuộc đời chiến sỹ của anh Lưu Quang Vũ, trong đó có một câu chuyện thú vị: Anh Vũ cũng như chúng tôi, đang tham gia một đội Tuyên văn của trung đoàn không quân, và mới đây đã sáng tác vở chèo “Đôi bạn quê hương” được cán bộ chiến sỹ trong binh chủng rất yêu thích.

Thầy giở từ trong túi một lá thư anh Vũ mới gửi về cho thầy, khoe với cha về thành công của vở chèo “Đôi bạn quê hương”: “Sau kỳ hội diễn, vở của con là tiết mục duy nhất vẫn còn tiếp tục đi diễn phục vụ các đơn vị và bà con nơi đóng quân. Bà con nông dân và bộ đội rất thích chèo bố ạ. Con không ngờ những điều học lỏm được của bố từ trước bây giờ lại có kết quả như vậy. Anh em phấn khởi và con cũng vui lắm. Khi nào được về nhà con sẽ kể chuyện sau…”.

Những dòng thư của anh Lưu Quang Vũ gửi cha làm chúng tôi hết sức phấn khởi, xúc động, thấy anh là thần tượng của mình mà sao gần gũi thân thiết thế, và thấy mình như được chắp cánh để quyết tâm sáng tác được những vở kịch, vở chèo như con trai yêu quý của thầy.

Sau những đêm nghe thầy dạy bảo, tôi viết được vở kịch nói đầu tay mang tên “Trọng điểm”, kể về sự tích một chiến sỹ trong Binh trạm 13 của tôi, còn anh Ngô Xuân Thông Binh trạm 11 thì viết xong vở chèo Tiếng hát đưa nôi. Ngay khi bản thảo ráo mực, thầy Lưu Quang Thuận đã bàn bạc ngay với anh Doãn Hoàng Giang dàn dựng cho đội văn nghệ Binh trạm 13 chúng tôi. Có một điều thú vị là, xem Binh trạm tôi chạy vở, nhiều đồng chí phụ trách trại cũng như nhiều binh trạm khác đã đề đạt với ban phụ trách để cũng được dàn dựng vở diễn này. Thế là cả anh Doãn Hoàng Giang, chị Thu Hằng (vợ nghệ sỹ điện ảnh Thế Anh) và đích thân thầy Lưu Quang Thuận cùng xắn tay áo lên dàn dựng vở diễn Trọng điểm cho các đơn vị.

Khi Binh trạm 17 miền Tây Quảng Bình dàn dựng vở này, thầy Thuận và anh Giang giao vai chính cho một lái xe đảm nhiệm. Đây là lần đầu tiên chiến sỹ lái xe này bước lên sân khấu, và sau này anh trở thành NSƯT Duy Hậu nổi tiếng của Nhà hát Tuổi Trẻ…

Ngày chúng tôi trở về đơn vị nơi mặt trận xa xôi, lẽ ra cùng anh em ra ga Thường Tín đi tàu đêm vào Vinh rồi rẽ theo đường 7 sang Lào, tôi xin phép đơn vị được qua Hà Nội đến nhà thầy Lưu Quang Thuận (96 phố Huế) để chào thầy, một lần nữa nói lời biết ơn thầy và qua thầy, gửi lời cám ơn tới những người thầy khác thời gian qua đã dạy bảo những người lính chúng tôi.

Thầy vốn là người cởi mở, hay chuyện, nhiệt tình, thế mà buổi ấy thầy chỉ ngồi yên lặng, nắm tay tôi. Thầy nhìn quanh nhà hồi lâu, như muốn tìm một vật gì để tặng người lính ra trận. Rồi thầy bước tới tủ sách, rút một tập sách đề tặng cho tôi. Tim tôi đập rộn rã khi thấy đó là tập thơ “Hương cây bếp lửa” – tập thơ đầu đời của anh Lưu Quang Vũ, chính là bản sách đầu tiên mà anh Vũ dành để tặng thầy – người cha thân yêu của mình. Tay tôi run lên đón nhận tập sách từ tay thầy, áp nó vào lồng ngực mình, và thấy không chỉ ấm áp mà còn như được tiếp thêm sức mạnh, bởi những trang thơ ấy có cả hai trái tim cùng đập, trái tim người cha và trái tim người con.

Thầy bước từng bước xuống cầu thang tiễn tôi. Tới cửa, thầy ôm lấy tôi, khẽ khàng: “Đi mạnh khỏe con nhé!”. Thầy gọi tôi là con đầy trìu mến và xúc động. Có lẽ hệt như ngày nào thầy đã tiễn đưa anh Lưu Quang Vũ trở về đơn vị.

Ít ngày sau, khi đó tôi đã về tới mặt trận Lào, được nghe trên làn sóng đài phát thanh một bài thơ đầy xúc động của thầy, bài “Đường con đi”.

 “Xem bản đồ theo dõi bước chân con,

Núi lớn vươn xa thăm thẳm điệp trùng…

Đường ra trận bản đồ chưa vẽ.

Cha nửa đời mưa nắng bôn ba

Nào đã biết con đường mới mẻ

Xuyên lũng xuyên đèo con trẻ đi qua.

Chỉ biết con đi ấm hơi đồng đội,

Uốn khúc con đường, nhưng thẳng tắp lòng con…”

…Những dòng nước mắt cứ lặng lẽ lăn trên má tôi. Xúc động biết bao tấm lòng một nghệ sỹ lớn, tấm lòng một người cha. Bài thơ có lẽ thầy viết cho anh Lưu Quang Vũ, cho những người con dứt ruột của thầy. Nhưng cũng có lẽ thầy viết cả cho chúng tôi, những người lính vận tải quân sự trải dài khắp miền đất nước.

Châu La Việt

Cùng chuyên mục

Quảng Bình: Gìn giữ và phát huy những giá trị di sản văn hóa của người Bru-Vân Kiều

Quảng Bình: Gìn giữ và phát huy những giá trị di sản văn hóa của người Bru-Vân Kiều

NHỚ TRẦN VŨ MAI VÀ NHA TRANG

NHỚ TRẦN VŨ MAI VÀ NHA TRANG

CÂU CHUYỆN PHẠM DUY Ở ĐÀ NẴNG

CÂU CHUYỆN PHẠM DUY Ở ĐÀ NẴNG

ĐỐC LÝ TRẦN VĂN LAI TRONG TIỂU THUYẾT “HÀ NỘI MÙA NẮNG HANH VÀNG” CỦA NGUYỄN THANH TÙNG

ĐỐC LÝ TRẦN VĂN LAI TRONG TIỂU THUYẾT “HÀ NỘI MÙA NẮNG HANH VÀNG” CỦA NGUYỄN THANH TÙNG

Việc “phát hiện” và di chuyển 41 sắc phong ra khỏi Chùa Am ở Hà Tĩnh: “Điều này không những không được phép, mà còn vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản”

Việc “phát hiện” và di chuyển 41 sắc phong ra khỏi Chùa Am ở Hà Tĩnh: “Điều này không những không được phép, mà còn vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản”

CHUYỆN VẶT VỀ THƠ VÀ ĐỜI VỚI THI SĨ CÙ HUY CẬN

CHUYỆN VẶT VỀ THƠ VÀ ĐỜI VỚI THI SĨ CÙ HUY CẬN

Sôi nổi hội cướp cù, đấu vật đầu Xuân ở Quảng Bình

Sôi nổi hội cướp cù, đấu vật đầu Xuân ở Quảng Bình

Bữa cơm báo hiếu của người dân tộc Nguồn – Quảng Bình

Bữa cơm báo hiếu của người dân tộc Nguồn – Quảng Bình

Phong tục gói bánh chưng – nét văn hóa truyền thống của người dân đất Việt.

Phong tục gói bánh chưng – nét văn hóa truyền thống của người dân đất Việt.