Bốn thập kỉ Bổ nhiệm Giáo sư, Phó giáo sư

9:43 | 27/10/2021

Nhà nước ta chủ trương phong học hàm Giáo sư, Phó giáo sư (GS, PGS) từ năm 1976. Năm 1980 Chính phủ quyết định công nhận đợt đầu. Từ đó, cứ đến hẹn lại lên, một hoặc hai năm một đợt các ứng viên lập hồ sơ trình lên 3 cấp Hội đồng xem xét, công nhận.


Một buổi lễ công bố quyết định và trao giấy chứng nhận GS, PGS.

Một trào lưu “liên tục phát triển…”

Đến nay đã có 27 đợt phong hàm GS, PGS với khoảng gần 12.500 người. Gần đây nhất là ngày 26/12/2020 trao quyết định cho 339 ứng viên (39 GS, 300 PGS). Trước đó, đợt 26 ngày 6/2/2018 ông Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ,Chủ tịch Hội đồng kí công nhận đợt năm 2017 kỉ lục trong 40 năm qua. Đây là đợt Hội đồng Giáo sư Nhà nước (HĐGSNN) công nhận tiêu chuẩn GS, PGS cho 1.131 người, mức cao nhất mà dư luận xã hội cho là cuộc “chạy đua nước rút theo chuyến tàu vét 174” trước khi Quyết định số 174/ QĐ-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ hết hiệu lực…

Như vậy, kể từ đợt đầu xét công nhận GS, PGS và theo đồ thị thì lần sau nhiều hơn lần trước như một trào lưu “liên tục phát triển”. Từ khi có Quyết định số 174 “Ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm chức danh Giáo sư, Phó giáo sư” và Quyết định số 20/2012/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ “về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 174” thì càng gia tăng. Trước năm 1990, bổ nhiệm học hàm do Thủ tướng kí công nhận, sau đó Chính phủ giao cho HĐGSNN. Đó là một nguyên nhân dẫn đến trào lưu bổ nhiệm có những đợt ồ ạt, vượt trội. Ví dụ: Trong đợt 1991-1992 có 1.900 người được công nhận (400 GS, 1.500 PGS) là số lượng cao hơn tổng số 10 năm trước đó Thủ tướng kí bổ nhiệm. Còn trong 10 năm gần đây: 2010 (967 người), năm 2011 (592 người), năm 2012 (631 người), năm 2013 (749 người), năm 2014 (822 người), năm 2015 (681 người), năm 2016 (931 người) và năm 2017 (1.131 người),năm 2000 (339 người). Các địa phương có nhiều trí thức được phong là Hà Nội,Tp Hồ Chí Minh, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình, Thanh Hóa, v.v…Năm 2016 cả nước công nhận 931 người, riêng Hà Nội 467 người (chiếm 66%), TP Hồ Chí Minh có 139 (chiếm 20%), còn 61 địa phương khác chỉ có 97 người (chiếm 14%). Các ngành có nhiều nhất GS, PGS là Y học, Hóa học, Khoa học quân sự, Khoa học trái đất, Vật lí,v.v…mà  dư luận cho là “Việt Nam lạm phát Giáo sư…”

Xung quanh “kỉ lục” mang số hiệu 174…”

Sở dĩ năm 2017 có mức “kỉ lục” công nhận GS, PGS được nhà chức trách khẳng định do sắp tới Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành tiêu chí mới với những quy định chặt chẽ, khắt khe hơn trên cơ sở tiêu chuẩn quốc tế chứ không còn tiêu chí quốc nội. Vì thế, HĐGSNN do ông Phùng Xuân Nhạ làm Chủ tịch thông báo đợt năm 2017 kéo dài thời gian nộp hồ sơ thêm 6 tháng. Các ứng viên nhộn nhịp hoàn thiện, bổ sung hồ sơ, bài báo, công trình khoa học, kê khai giờ lên lớp. Đây là cơ hội cho cuộc chạy đua nước rút đi tới đỉnh “Făng-xi-păng” học hàm theo tiêu chí 174. Cuộc chạy đua đến mức năm 2017 có tới 1.537 ứng viên tự cho là “đủ tiêu chuẩn”. Trong 2 tháng, HĐGSNN xem xét loại 311 trường hợp rồi báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép công nhận 1.226 người. Trong quá trình ấy, xuất hiện nhiều đơn khiếu nại, tố cáo khiến Thủ tướng phải chỉ đạo “rà soát lại, yêu cầu làm nghiêm túc, đánh giá chất lượng thực chất”. HĐGSNN tiếp tục rà soát loại thêm 95 ứng viên (trong đó có 1 vị Bộ trưởng) để nhanh chóng kí bổ nhiệm 1.131 GS, PGS.

Đáng chú ý là đợt 26 năm 2017 “kỉ lục” ấy, HĐGSNN dự kiến phong 1.226 ứng viên (đã trải qua Hội đồng 3 cấp xét duyệt) tỉ lệ đạt 79,8% (cao hơn năm 2016 là 3,3%), tỉ lệ bị loại 20,2% (năm 2016 là 23,5%). Còn về chất lượng lấy bài báo quốc tế (ISI/Scopus) làm chuẩn thì trong 1.226 ứng viên có 5.136 bài (năm 2016 là 2.504 bài). Trung bình bài báo ISI/Scopus là 4,3 bài/ứng viên (năm 2016 là 3,5 bài). Tuy nhiên, 5.136 bài báo quốc tế chỉ do 588 người viết, còn 638 người (52%) không có bài báo ISI/Scopus, thể hiện chất lượng rất thấp so với mặt bằng quốc tế. Đấy là chưa nói đến những tiêu cực như “đạo luận văn”, “mua xuất bản”, ngụy tạo số liệu, ngụy khoa học. Một số ứng viên sau khi có đơn tố cáo đã “tự nguyện” rút hoặc Hội đồng loại,v.v…

Đợt công nhận năm 2017 được quan tâm rất lớn của giới trí thức và Nhân dân, nhìều tranh cãi xung quanh chất lượng và sự ngộ nhận về chức danh. Có người bình luận: “Ở Việt Nam, GS, PGS mang tính vinh danh nhiều hơn là khoa học”. Trong nhiều lần phát biểu, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thường trăn trở về chất lượng và hiệu quả các công trình nghiên cứu. Năm 2015, Việt Nam công bố có 2.000 báo cáo quốc tế nhưng nhìn sang các nước thì vẫn ít ỏi (Mailaixia có 100.000, Trung Quốc 260.000, Mỹ là 500.000,v.v…) công trình khoa học công bố quốc tế.

Ngày 31/8/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 37/QĐ-TTg quy định về tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận và bổ nhiệm chức danh GS, PGS… thì sát  hơn với tiêu chuẩn quốc tế nên đợt xét năm 2000 có tiến bộ hơn. Với 87 Hội đồng ở 3 cấp xem xét 542 ứng viên, cuối cùng công nhận 339 người (39 GS, 300 PGS) chiếm 60,7 % ứng viên đăng kí.

Trăn trở về chất lượng khoa học và học thuật

Việc xét công nhận GS, PGS ở nước ta hình thành 3 cấp Hội đồng: Cấp cơ sở (trường – cụm trường, viện nghiên cứu), cấp ngành – liên ngành và cấp Nhà nước. Ứng viên nộp hồ sơ cho Hội đồng cơ sở để xét từ dưới lên. Năm 2017, cả nước có hơn 100 Hội đồng cơ sở, 28 Hội đồng ngành – liên ngành, 1 Hội đồng cấp Nhà nước (nhiệm kì 5 năm). Mỗi cấp gồm nhiều GS, PGS, có bộ phận giúp việc. Chủ tịch Hội đồng cấp Nhà nước là Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đương nhiệm. Hàng năm, sau khi có thông báo, các ứng viên tấp nập nộp hồ sơ như một trào lưu, chạy đua, không tránh khỏi tình trạng chạy chọt,  mua bán.

Tiêu chuẩn công nhận GS, PGS ở nước ta quy định phải là Tiến sĩ (TS), có công trình khoa học, có trình độ ngoại ngữ, không nhất thiết phải có bài báo quốc tế (ISI/Scopus) mà vận dụng có đủ công trình khoa học, ít nhất 50% số công trình quy đổi từ các bài báo và 25% số công trình khoa học được quy đổi trong 3 năm cuối, có đủ số giờ đứng lớp, đã hướng dẫn 2 TS trở lên. Đối với thế giới thì tiêu chuẩn bắt buộc phải có bài báo ISI/Scopus nhưng ở Việt Nam “được châm chước”, vô hình chung “bật đèn xanh” cho những công bố ít hiệu quả, hạ thấp tiêu chuẩn. Có GS được công nhận không từ bài báo khoa học mà là bài in ở Nội san (không phải là Tạp chí), hoặc bài đăng báo Nhân Dân. Sự “châm chước” dẫn đến tình trạng là các đợt phong hàm quá nửa số người không có công bố khoa học quốc tế trong khi thế giới áp dụng tiêu chí đó để đánh giá năng lực nghiên cứu. Mặt khác, Hội đồng phỏng vấn, phản biện không có GS nước ngoài tham gia,v.v…

Đánh giá về đợt phong GS, PGS năm 2017, có nhà khoa học nhận xét: “Số người có công trình đăng bài báo quốc tế rất thấp”. Cụ thể: 56/85 GS có bài báo ISI/Scopus với tổng số 924 bài, 29/85 GS không có bài báo quốc tế. Công nhận 1.046 PGS chỉ có 609 ứng viên (53%) có bài báo ISI/Scopus. Trong 28 ngành có PGS thì 11 ngành không có bài báo quốc tế (khoa học xã hội: 13 PGS ngành luật, 22 PGS ngôn ngữ học). Trong 93 GS, PGS thuộc lực lượng vũ trang Nhân dân chỉ có 1 người có 1 bài báo quốc tế; 3/32 PGS của ngành GD&ĐT có bài báo quốc tế cũng chỉ với 4 bài; ngành Tâm lí học chỉ có 2/17 PGS có bài báo quốc tế; ngành Triết học – Xã hội – Chính trị học có 26 PGS chỉ 2 người có bài báo quốc tế. Đợt năm 2017 tiêu chuẩn xét GS, PGS thấp hơn tiêu chuẩn xét công nhận TS. Nếu thực hiện theo chuẩn mực quốc tế thì các đợt công nhận GS, PGS hàng năm chỉ đạt 40% – 45 % tổng số ứng viên.

GS Đào Trọng Thi, cựu Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội nhận xét: “Quy trình, tiêu chuẩn công nhận hiện nay “có vấn đề”. Ông lấy làm lạ là “những điều thế giới cần thì Việt Nam không quan tâm mà chỉ quan tâm đến hình thức, thủ tục và số lượng…”

Chức năng của GS, PGS là giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thế nhưng…

Lẽ thường, học hàm GS, PGS dành cho những người chuyên giảng dạy, nghiên cứu khoa học, mang tính chuyên gia. Đánh giá năng lực GS, PGS trên hai tiêu chí quan trọng nhất là năng lực đào tạo (giảng dạy) và nghiên cứu. Đội ngũ này chịu trách nhiệm về hướng phát triển một ngành, một lĩnh vực tại cơ sở đang hoạt động. Trên thế giới không ở đâu quy định GS, PGS có chức năng quản lí Nhà nước, họ không công nhận những người không trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu.

Ở Việt Nam, có nhiều GS, PGS tâm huyết, giàu trí tuệ, cống hiến cho đất nước trong lĩnh vực giáo dục, y học, khoa học – công nghệ. Tuy nhiên, do cơ chế xét, bổ nhiệm “vừa chặt chẽ vừa dễ dãi” nên nhiều năm phong ồ ạt dẫn đến “đồng thau lẫn lộn”, nó mang tính vinh danh nhiều hơn mang tính khoa học. Nhiều người sắp về hưu cũng nỗ lực “phấn đấu”, nhiều công chức trong các cơ quan hành chính cũng “chạy thủ tục” để có học hàm. Nhà nước tổ chức vinh danh trọng thể nhưng ít đề cao chức năng phục vụ.

Ở các nước phát triển – đặc biệt là Mỹ – GS, PGS nhất thiết phải là người giảng dạy, nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp. Nhiều quốc gia không có HĐGSNN như nước ta. Việc công nhận học hàm do nhà trường, cơ sở nghiên cứu xét, quyết định. Nhà nước chỉ xây dựng tiêu chí “cứng”, ban hành chính sách. Danh vị GS, PGS là nhu cầu của nhà trường, của ngành, nơi họ làm việc chứ không phải GS, PGS của cả nước. Khi nghỉ hưu, nếu không tham gia giảng dạy, nghiên cứu thì không còn chức danh GS, PGS.

Ở Việt Nam, GS, PGS như một tước vị suốt đời. Khi tại chức được hưởng phụ cấp 45% lương cơ bản, phụ cấp thâm niên, được hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, được kéo dài thời gian lam việc. Về hưu và khi qua đời vẫn được vinh danh GS, PGS. Cuộc chạy đua để có học hàm thể hiện khát vọng, ý chí của rất nhiều người nên nảy sinh không ít tiêu cực. Trước khi lập hồ sơ, nhiều ứng viên “chạy” điểm (bài báo, số giờ lên lớp, quy đổi công trình khoa học,v.v…) mà Hội đồng chỉ căn cứ kê khai chứ không thể đi xác minh. Có những ứng viên “sao kê” cả số giờ nói thời sự, giảng nghị quyết để tính điểm. Việc mua, bán điểm ở một số Hội đồng là có. Tình trạng thuê viết luận án, thuê làm công trình, thuê viết bài báo cũng là “chuyện thường ngày ở huyện”.

So với quốc tế, Việt Nam có cách làm “không giống ai”. Theo chuẩn mực GS phải viết sách, có đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia. Ở ta, nhiều người được công nhận hàng chục năm sau không có công trình khoa học, không viết sách cũng chẳng sao (?). Có vị viết ra sách nhưng không ai đọc, không áp dụng được vào cuộc sống. Tiêu chí không cần có bài báo ISI/Scopus là sự dễ dãi, nhưng công nhận nhiều GS, PGS là cán bộ, công chức giữ cương vị lãnh đạo, quản lí ở cơ quan hành chính cũng là đặc điểm “không giống ai”. Với họ, danh vị học hàm chỉ còn là cái mác như đồ trang sức. Vì vậy, có đợt phong GS, PGS cho nhiều quan chức, trong đó có cả Bộ trưởng, Thứ trưởng, tướng lĩnh. Đó là những người hàng ngày “bơi trong biển công việc”, họp hành chóng mặt, đi nước ngoài nước trong còn đâu thời gian giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hướng dẫn Tiến sĩ,v.v…Ở Mỹ, 45 vị Tổng thống hầu như không có ông nào là GS, PGS.

Sau khi có khoảng 20% – 25% số GS, PGS qua đời hoặc giải nghệ thì cả nước có khoảng trên 9.000 GS, PGS nhưng tính đến năm 2019 các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu cấp Nhà nước chỉ có 619 GS, 4.831 PGS trực tiếp hoạt động theo tiêu chí còn là làm lãnh đạo, quản lí trong khi các nhà khoa học thực thụ, sáng tạo lớn thua kém xa thế giới, khu vực. Nước ta cũng có hơn 30.000 tiến sĩ nhưng chỉ có 38 % làm công tác giảng dạy, nghiên cứu còn lại là công chức, viên chức Nhà nước, làm ở doanh nghiệp hoặc hoạt động tự do. Theo Bộ Khoa học – Công nghệ, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ số văn bằng bảo hộ cấp chứng chỉ sáng chế năm 2017 cả nước có 1.746 (cấp trong 5 năm) tăng 60% nhưng chỉ bằng 1/3 Thái Lan và Singapore, 1/11 Malayxia, 1/1240 Hàn Quốc, 1/3170 Trung Quốc. Mặc dù nước ta có hơn 400 trường đại học, cao đẳng, tầng lớp trí thức đông hơn nhiều quốc gia khác (cao hơn Nhật Bản), trải qua hơn 35 năm đổi mới và 4 cuộc cải cách giáo dục nhưng cho đến nay rất hiếm các trường đại học đạt chuẩn quốc tế, nếu có xếp hạng cũng ở vị trí rất xa (Ngày 2/9/2021 tổ chức Times Higher Education (THE) xếp hạng 5 cơ sở đại học của ta thì 2 trường Tôn Đức Thắng, Duy Tân được xếp gần cuối tốp 500, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và Đại học Bách khoa Hà Nội được xếp hạng tốp 801… đến 1201…của thế giới).  Trong khi đó, nhiều người dân không phải là TS, GS, PGS nhưng có hàng loạt phát minh sáng chế đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội bất ngờ: Từ máy ép củi trấu, hệ thống phun tưới nước tự động, máy tẽ ngô, máy bóc lạc, máy gặt đập liên hợp đến mô hình trực thăng, tàu điện ngầm, di dời công trình xây dựng (thần đèn),v.v…lại do những cái đầu và trái tim người lao động chân đất, học vấn xa vời so với các vị TS, GS, PGS?…

 

Văn Hiến VN

Video hay

Cùng chuyên mục

TỌA ĐÀM KHOA HỌC: Sân khấu dành cho thiếu niên nhi đồng

TỌA ĐÀM KHOA HỌC: Sân khấu dành cho thiếu niên nhi đồng

Sáng tạo cho những tác phẩm sân khấu hay cho thiếu niên nhi đồng

Sáng tạo cho những tác phẩm sân khấu hay cho thiếu niên nhi đồng

PHONG TRÀO THỂ THAO RẤT HIẾM CÓ Ở MỘT VÙNG QUÊ

PHONG TRÀO THỂ THAO RẤT HIẾM CÓ Ở MỘT VÙNG QUÊ

Phát động Giải Báo chí “Tuyên truyền về chuyển đổi số TP. Đà Nẵng” năm 2024

Phát động Giải Báo chí “Tuyên truyền về chuyển đổi số TP. Đà Nẵng” năm 2024

Khánh Hòa xử phạt nhiều website thương mại điện tử vi phạm quy định

Khánh Hòa xử phạt nhiều website thương mại điện tử vi phạm quy định

Hà Tĩnh: Triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt các giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông trên địa bàn huyện Đức Thọ

Hà Tĩnh: Triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt các giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông trên địa bàn huyện Đức Thọ

Ngôi Đình hơn trăm năm tuổi ở Quảng Bình

Ngôi Đình hơn trăm năm tuổi ở Quảng Bình

Đại biểu nêu tâm lý ‘sợ sai’ và đề xuất cơ chế bảo vệ cán bộ

Đại biểu nêu tâm lý ‘sợ sai’ và đề xuất cơ chế bảo vệ cán bộ

Thủ tướng Singapore Lawrence Wong muốn đưa hợp tác với Việt Nam lên tầm cao mới, vừa toàn diện, vừa chiến lược

Thủ tướng Singapore Lawrence Wong muốn đưa hợp tác với Việt Nam lên tầm cao mới, vừa toàn diện, vừa chiến lược