Bảo tồn và phát huy Văn hóa làng xứ Quảng

14:19 | 26/06/2026

Ngày 25.6, tại thành phố Đà Nẵng, Sở Văn Hóa Thể thao và Du lịch TP. Đà Nẵng đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Văn hóa làng xứ Quảng – Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trong kỷ nguyên mới”.

Quang cảnh buổi Tọa đàm khoa học “Văn hóa làng xứ Quảng – Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trong kỷ nguyên mới.

Đến tham dự hội thảo có bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó Chủ tịch UBND Tp Đà Nẵng, PGS – TS Bùi Hoài Sơn – Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thành phố Đà Nẵng; cùng các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về lịch sử – văn hóa thành phố Đà Nẵng.

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, văn hóa làng truyền thống xứ Quảng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và giao lưu văn hóa toàn cầu đã tác động sâu sắc đến đời sống cộng đồng làng xã. Bên cạnh những mặt tích cực, nhiều giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; một số phong tục, nghề truyền thống, cấu trúc không gian văn hóa làng biến đổi. Trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn, nhiều làng quê đã chuyển đổi từ mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phát triển công nghiệp, dịch vụ. Những làn sóng công nghệ mới thâm nhập vào đời sống làng nghề, tạo nên những giá trị mới mang yếu tố thời đại. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống càng ngày càng phát triển, cơ sở tín ngưỡng, đình, chùa, di tích được tu bổ, lễ hội được phục dựng… Những mô hình khai thác không gian văn hóa làng gắn với giá trị lịch sử được hình thành như: Du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng, sinh thái, du lịch nông nghiệp… đem đến sắc thái mới cho nhiều làng quê. Tuy nhiên, sự phát triển của hạ tầng nông thôn, đô thị hóa và lối sống hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến đời sống nông thôn, làm phai nhạt giá trị truyền thống, phá vỡ không gian cũng như những chuẩn mực văn hóa vốn là đặc trưng của mỗi làng quê. Đây là điều thật sự đáng lo ngại, cần có cái nhìn tổng thể, khoa học trên cơ sở thực tiễn.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Phó Chủ tịch UBMT TQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng: Từ góc độ của MTTQ Việt Nam, chúng tôi cho rằng trong quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố hiện nay, yêu cầu quan trọng hàng đầu là phải phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo đảm thực chất quyền làm chủ của Nhân dân.

Người dân không chỉ là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và trao truyền các giá trị văn hóa cộng đồng mà còn là chủ thể tham gia quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của mình. Vì vậy, việc sắp xếp, đặt tên thôn, tổ dân phố cần được thực hiện công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến Nhân dân và tạo sự đồng thuận xã hội. Thực tiễn cho thấy, người dân đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn các danh xưng làng truyền thống đã gắn bó với lịch sử hình thành vùng đất và đời sống văn hóa cộng đồng. Bởi tên gọi của một làng quê không đơn thuần là một địa danh hành chính mà còn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng, bản sắc văn hóa và tình cảm gắn bó sâu sắc của bao thế hệ người dân. Do đó, việc lựa chọn tên gọi thôn, tổ dân phố sau khi sắp xếp cần bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước với việc gìn giữ, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống, đồng thời đáp ứng tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Trong quá trình triển khai, MTTQ Việt Nam các cấp tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, vận động Nhân dân; làm tốt chức năng cầu nối giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân; kịp thời lắng nghe, tiếp thu và phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, qua đó góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm việc thực hiện chủ trương đạt hiệu quả, đúng với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn với bài tham luận “Văn hóa Làng – Giá trị cốt lõi hình thành bản sắc văn hóa dân tộc”.

Trong bài tham luận “ Văn hóa Làng – Giá trị cốt lõi hình thành bản sắc văn hóa dân tộc”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã có những nhận định về các giá trị cốt lõi trong Văn hóa Làng với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và những nét đặc trưng trong văn hóa làng quê xứ Quảng.

Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, làng không chỉ là một đơn vị cư trú, một cộng đồng dân cư hay một hình thức tổ chức xã hội truyền thống, mà còn là không gian văn hóa đặc biệt, nơi kết tinh, lưu giữ và trao truyền những giá trị căn cốt nhất của văn hóa dân tộc. Nếu quốc gia là hình hài chính trị – lịch sử của cộng đồng dân tộc, thì làng là tế bào văn hóa, nơi mỗi con người Việt Nam được sinh ra, được nuôi dưỡng, được học cách sống, cách ứng xử, cách yêu quê hương, kính trọng tổ tiên, gắn bó với cộng đồng và có trách nhiệm với đất nước.

Từ cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, mái chùa, nhà thờ tộc họ, đến hương ước, lệ làng, lễ hội, nghề truyền thống, lời ăn tiếng nói, phong tục cưới hỏi, tang ma, thờ cúng tổ tiên, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa làng đã tạo nên một hệ giá trị bền vững, thấm sâu vào đời sống tinh thần của người Việt. Những giá trị ấy không phải bao giờ cũng được ghi chép thành văn bản, nhưng lại tồn tại rất bền trong ký ức, trong nếp nhà, trong ứng xử thường ngày, trong cách con người biết “ăn ở có trước có sau”, biết “tối lửa tắt đèn có nhau”, biết coi trọng nghĩa tình, danh dự, gia phong, dòng họ, quê hương.

Xứ Quảng là một vùng đất đặc biệt trong tiến trình lịch sử – văn hóa Việt Nam. Đây là không gian giao thoa giữa núi và biển, giữa văn hóa Việt và văn hóa Chăm-pa, giữa truyền thống nông nghiệp và văn hóa thương cảng, giữa tinh thần làng xã bền chặt và ý chí khai mở mạnh mẽ. Chính trong không gian ấy, văn hóa làng xứ Quảng đã hình thành nên những phẩm chất đặc trưng: cần cù, tiết kiệm, thẳng thắn, nghĩa khí, hiếu học, giàu bản lĩnh, giàu khát vọng vươn lên và luôn biết thích ứng với những biến động của thời cuộc.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên phát triển mới, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và xây dựng các động lực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, sáng tạo và văn hóa, việc nhận diện đúng giá trị của văn hóa làng càng trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 80-NQ/TWcủa Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã nhấn mạnh: “Văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước”; “là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam” . Cách tiếp cận đó cho thấy, văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được bảo tồn, mà còn là nguồn lực, động lực và hệ điều tiết cho phát triển bền vững.

Ở xứ Quảng, văn hóa làng còn được thể hiện trong ẩm thực, tiếng nói, lối sống và sinh hoạt cộng đồng. Những món ăn nổi tiếng của xứ Quảng như: Mì Quảng, cao lầu, bê thui, bánh tráng, rau Trà Quế, các sản phẩm làng nghề, những lễ hội dân gian, hò khoan, bài chòi, các nghi lễ thờ cúng tiền hiền, hậu hiền, các sinh hoạt tộc họ, đình làng, miếu xóm… tất cả tạo nên một chỉnh thể văn hóa vừa bình dị vừa giàu chiều sâu. Những giá trị ấy làm cho xứ Quảng không chỉ có di sản để tham quan, mà có một đời sống văn hóa để trải nghiệm, một bản sắc để đối thoại và một nguồn lực để phát triển.

Cũng theo PGS – TS Bùi Hoài Sơn: Văn hóa làng xứ Quảng hiện nay cũng đứng trước nhiều thách thức. Quá trình đô thị hóa, phát triển hạ tầng, mở rộng du lịch, biến đổi sinh kế và di cư lao động làm thay đổi nhanh không gian làng truyền thống. Nhiều ngôi nhà cổ, đình làng, miếu xóm, cảnh quan nông thôn bị biến dạng hoặc xuống cấp. Một số lễ hội có nguy cơ bị sân khấu hóa, thương mại hóa, tách khỏi đời sống cộng đồng. Một số làng nghề gặp khó khăn trong truyền nghề, đổi mới mẫu mã, mở rộng thị trường. Nhiều người trẻ yêu quê hương nhưng chưa thật sự hiểu sâu về lịch sử làng, văn hóa dòng họ, phong tục, nghề nghiệp và ký ức cộng đồng. Nếu không có cách tiếp cận kịp thời, chúng ta có thể giữ được một số di tích nhưng lại mất đi môi trường văn hóa đã tạo ra sức sống của di tích ấy.

Vì vậy, bảo tồn văn hóa làng xứ Quảng phải vượt lên cách tiếp cận đơn lẻ, tách rời. Không thể chỉ bảo tồn đình làng mà không quan tâm đến lễ hội; không thể chỉ bảo tồn lễ hội mà không quan tâm đến người thực hành; không thể chỉ phát triển du lịch mà không bảo vệ sinh kế, môi trường và phẩm giá của cộng đồng; không thể chỉ số hóa di sản mà không làm cho người dân tự hào, hiểu biết và có trách nhiệm với di sản. Văn hóa làng là một chỉnh thể sống, nên bảo tồn văn hóa làng cũng phải là bảo tồn một hệ sinh thái sống.

Nguyễn Hữu Hồng Sơn


Cùng chuyên mục

Trao 4 giải Nhất tại cuộc thi Tài năng diễn viên cải lương toàn quốc 2026

Trao 4 giải Nhất tại cuộc thi Tài năng diễn viên cải lương toàn quốc 2026

Đồn Biên phòng Đàm Thuỷ kịp thời hỗ trợ Nhân dân di chuyển an toàn qua cầu Háng Thoang bị ngập

Đồn Biên phòng Đàm Thuỷ kịp thời hỗ trợ Nhân dân di chuyển an toàn qua cầu Háng Thoang bị ngập

Sinh tử nơi đầu sóng, ngư dân viết thư tri ân người lính Biên phòng Hải An

Sinh tử nơi đầu sóng, ngư dân viết thư tri ân người lính Biên phòng Hải An

Đồn Biên phòng Đàm Thủy tham gia sinh hoạt dưới cờ, tuyên truyền pháp luật biên giới tại Mốc 835

Đồn Biên phòng Đàm Thủy tham gia sinh hoạt dưới cờ, tuyên truyền pháp luật biên giới tại Mốc 835

Chơi đẹp trên sân – Vững đạo trên thương trường

Chơi đẹp trên sân – Vững đạo trên thương trường

Đà Nẵng “chạm về nguyên bản”: Kích cầu du lịch 2026 bằng chiều sâu trải nghiệm

Đà Nẵng “chạm về nguyên bản”: Kích cầu du lịch 2026 bằng chiều sâu trải nghiệm