Văn Hiến Plus

Vũ Bình Lục - Rất quen mà rất lạ

30/12/2017 11:57:47
Rất quen, bởi vì nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Bình Lục thuộc lớp nhà văn trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ - cứu nước, đã xuất bản hàng chục tập thơ riêng, từng đoạt giải Nhì (không có Nhất) cuộc thi thơ 2003-2004 của tạp chí Văn Nghệ Quân đội với bài thơ “Đám cưới một linh hồn” nổi tiếng. Vũ Bình Lục từng là trợ lý tham mưu tiểu đoàn đặc công 409 quân khu V, thương binh 4/4, rồi “dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” khi ông còn ở tuổi đôi mươi đầy nhiệt huyết. Ba mươi năm dạy học và đọc sách bồi bổ kiến văn, khi về hưu, ông dồn toàn bộ tâm lực vào công việc sáng tạo văn chương. Chỉ với khoảng 6 năm, nhà văn Vũ Bình Lục đã công bố một số công trình quan trọng, dịch thơ và bình giải tinh hoa thơ hàng nghìn năm của thơ ca Việt Nam thời kỳ Trung đại: Từ HỒN THIỀN TRONG THƠ LÝ-TRẦN, đến THÁNH THƠ CAO BÁ QUÁT, tác phẩm đoạt giải B (không có A) về Lý luận –phê bình của Liên hiệp các hội văn học và nghệ thuật Việt Nam năm 2014 và mới đây là bộ sách 2 tập HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM, dịch thơ chữ Hán, đồng thời bình giải toàn bộ thơ chữ Hán và thơ Nôm của đại thi hào Nguyễn Trãi, đem đến cho công chúng một cách tiếp cận mới, một cách thưởng thức mới về thơ ca cổ. Đó chính là một sự lạ, bởi có thể ông chính là người đầu tiên ở nước ta thực hiện công trình quy mô và độc đáo này...

Nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Bình Lục
Nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Bình Lục  


1. CÓ ĐI ẮT ĐẾN

Vũ Bình Lục tuổi Mậu Tý (1948), quê gốc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Sinh ra trong kháng chiến chống Pháp ở một vùng quê “bể tận sông cùng”, tuổi thơ đã được chứng kiến nhiều biến cố thăng trầm của quê hương sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Học hết cấp II phổ thông ở quê, ông sang Kiến An học tiếp cấp III và lên đường nhập ngũ năm 1967, khi chưa kịp hoàn thành chương trình phổ thông năm cuối cấp. Sau mấy năm chiến đấu ở chiến trường khu V, Vũ Bình Lục được ra Bắc điều dưỡng, rồi giải ngũ về quê. Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn đại học Sư phạm Hà Nội I khóa 1973-1977, ông xin về Thái Bình dạy Văn ở một trường cấp III (nay là THPT) gần nhà. Được mươi năm thì ông lại chuyển cả gia đình vào Tây Nguyên tiếp tục dạy học và...còn kiêm thêm cả nghề “canh điền” nữa. Ông xin nghỉ hưu trước 30 tháng, lại hồi hương về Bắc và chọn Hà Nội làm nơi định cư cuối cùng, rồi đắm đuối với văn chương...

Gần gũi Vũ Bình Lục mấy năm nay, gần đây tôi mới hỏi ông rằng ông còn làm thơ nữa không, hay chỉ ngồi viết sách? Ông cười hiền lành, rồi bảo rằng tôi vẫn làm thơ hàng ngày đấy chứ, nhưng là những bài thơ ngắn, có thể chỉ là vài ba bốn câu, ứng tác ngay trên “Phây” của mình cho bạn đọc trong và ngoài nước thưởng thức cho vui. Nếu thu gom đem chỉnh sửa để in, thì cũng được vài ba tập. Nhưng điều tôi muốn nói về ông trong bài viết này, chủ yếu nhằm vào công trình mới nhất là bộ sách 2 tập HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM ông viết về Nguyễn Trãi.

Khởi thảo từ hàng chục năm về trước, nhưng mãi đến năm 2015, Vũ Bình Lục mới bắt tay vào việc hoàn tất bộ sách lớn này. Bộ HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn công bố vào quý II năm 2015, khoảng gần 1600 trang khổ 14,5 / 20,5. Sách ông tự bỏ tiền ra in và tự phát hành. Ngoài mấy tập GIAI PHẨM VỚI LỜI BÌNH trước đây giới thiệu xen lẫn văn học dân gian, với một số tác phẩm thơ trung đại và hiện đại, đến nay, Vũ Bình Lục đã liên tiếp làm những cuốn sách chuyên đề về thơ Lý-Trần (Tinh tuyển-704 tr), Thánh thơ Cao Bá Quát (Tinh tuyển-704 tr) và toàn bộ thơ chữ Hán, thơ Nôm Nguyễn Trãi. Nếu xét riêng về việc dịch thơ, và nếu tôi không nhầm thì Vũ Bình Lục chính là người dịch thơ nhiều nhất ở nước ta tính đến thời điểm này, gần 500 bài cả thảy, trong đó, không ít bản dịch đã đạt đến mức Tín, Đạt, nhã... Chỉ xin dẫn ra đây một số ví dụ rút trong tập thứ nhất:
 
NGẪU THÀNH
 
Phiên âm:
 
Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc phụ thư.
 
Dịch nghĩa:
 
Đời người là cái thừa của giấc mộng kê vàng / Tỉnh lại muôn việc đều thành không cả / Như nay ta chỉ thích ở trong núi / Làm nhà lá bên hoa mà đọc sách của cha để lại.
 
Dịch thơ:
 
Đời như giấc mộng kê vàng,
Tỉnh ra, sau trước muôn vàn đều không.
Nay ta chỉ thích non bồng,
Nhà bên hoa, đọc mấy chồng sách cha.
 
MỘ XUÂN TỨC SỰ
 
Phiên âm:
 
Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão,
Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.
 
Dịch nghĩa:
 
CUỐI XUÂN TỨC CẢNH
 
Thong thả trọn ngày đóng cửa phòng sách / Ngoài cửa không hề có khách tục đến / Trong tiếng đỗ quyên kêu nghe xuân đã về già / Đầy sân hoa xoan nở dưới mưa phùn.
 
Dịch thơ:
 
Ngày nhàn khép cửa phòng văn,
Tịnh không khách tục đến thăm cửa ngoài.
Quyên kêu xuân đã muộn rồi,
Đầy sân xoan nở dưới trời mưa bay.
 
Cũng có những bản dịch đầy sáng tạo mà không gây tổn hại đến nguyên tác, câu thơ thứ hai được chuyển lên làm câu đầu:
 
TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ
 
Phiên âm:
 
Độ đầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô châu trấn nhật các sa miên.
 
Dịch nghĩa:
 
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói / Lại thêm có mưa xuân nước vỗ vào nền trời / Đường ngoài nội vắng teo ít người đi lại / Chiếc thuyền đơn côi suốt ngày gối đầu lên bãi cát say ngủ.
 
Dịch thơ:
 
Mưa xuân nước vỗ lưng trời,
Cỏ xuân như khói xanh phơi bến đò.
Vắng teo đường nội quanh co,
Bãi sông gác mũi, con đò ngủ say.
 
Bằng thể thơ lục bát truyền thống, Vũ Bình Lục đã đem đến cho bạn đọc những bản dịch thơ khá uyển chuyền, sát nội dung nguyên tác, chắc chắn người đọc sẽ dễ dàng tiếp nhận.

2. ĐẾN MỘT NƠI NHIỀU KHÓ KHĂN, NHIỀU THỬ THÁCH

Có thể có bạn đọc khi mới cầm quyển sách lên, sẽ bảo rằng Nguyễn Trãi thì nhiều người viết rồi, lại toàn là những bậc túc Nho, còn viết làm gì cho uổng công? Xin thưa rằng, hãy đọc kỹ sách của tác giả Vũ Bình Lục đi rồi hãy phát biểu ý kiến, như thế mới thực sự khách quan. Rõ ràng là toàn bộ cuốn sách (kể cả các cuốn HỒN THIỀN TRONG THƠ LÝ-TRẦN và THÁNH THƠ CAO BÁ QUÁT trước đó), không hề có một chú thích, chú giải nào ở cuối trang, nhưng tác giả đã chuyển tải tất cả những chú thích chú giải, điển cố điển tích của nguyên tác vào cả trong văn của mình rồi.

Tôi cho rằng lời bình của Vũ Bình Lục rất thấu đáo và tinh tế, mềm mại đầy chất thơ, không kém gì những bài thơ văn xuôi vậy. Thêm nữa, sách này không phải là sách thuộc nhóm khảo cứu Văn bản học thông thường. Tác giả đã nâng cánh cho thơ nguyên tác thông qua bản dịch thơ và lời bình thấu đáo, đem đến cho công chúng một cách hiểu dễ dàng hơn và cũng không ít thú vị. Kiểu làm sách như của Vũ Bình Lục, ở nước ta chưa hề có. Không phải là sách tuyển dịch, chú giải như những sách của các bậc tiền bối, vậy mà Vũ Bình Lục đã đem đến cho bạn đọc một lối văn được tích hợp nhiều thể loại, có khi là tản văn, có chỗ là bút ký, tùy bút văn học, kết hợp bình luận, phân tích tác phẩm. Hàn lâm đấy, mà dân dã nôm na đáp ứng được nhu cầu, trình độ thưởng thức của nhiều tầng lớp bạn đọc.

Trò chuyện với Vũ Bình Lục, tôi hỏi rằng ông có giỏi chữ Hán - Nôm không mà dám làm những công trình rất khó này, ông bảo: Tôi chả giỏi chữ Hán-Nôm đâu, nhưng cũng có được đào tạo chút đỉnh hồi còn là sinh viên khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội I. Khoa chọn ra 8 người trong số sinh viên của khoa để mở một lớp Hán-Nôm nâng cao, do giáo sư Đặng Đức Siêu trực tiếp giảng dạy, tôi là một trong tám người may mắn được chọn, khi kết thúc thì cấp chứng chỉ hẳn hoi. Kiến thức học được ở giảng đường cũng mới chỉ là sơ sơ thế thôi, nhưng nó cũng rất bỏ ích cho công việc của ông trong hiện tại.

Ông còn bảo rằng phần Văn bản học và khảo cứu đã được nhiều thế hệ các bậc tiền bối làm rồi, ông sử dụng “Phương pháp con ong” của Bê-cơn, nghĩa là tiếp thu và kế thừa tinh hoa của những người đi trước, sử dụng thành quả Văn bản học của những người giỏi về Hán Nôm, rồi làm tiếp việc dịch thơ và bình giải tác phẩm. Ông bình giải bài thơ bắt đầu từ đơn vị nhỏ nhất là chữ, cố gắng tìm ra ý tưởng chủ đạo trong cái hay cái đẹp của bài thơ, đồng thời căn cứ vào nội dung để ước đoán hoàn cảnh sáng tác của từng bài thơ, do đó, ít nhiều đã đóng góp những ý kiến phản biện có lý, có tình. Là bởi vì bản gốc thơ Nguyễn Trãi đã bị triều đình thiêu hủy, việc sưu tầm khảo cứu vẫn có sự “tam sao thất bản”, cho nên thảo luận thêm cho sáng tỏ vấn đề cũng là việc nên làm và rất đáng được khích lệ.

Đọc bộ sách HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM của Vũ Bình Lục, bạn đọc dù khó tính đến mấy cũng phải đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và bất ngờ nhận ra vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ sắc sảo của một con người nom bề ngoài đôn hậu, giản dị, lại có tác phong mực thước của một nhà giáo, kín đáo mà thâm trầm. Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học nói vui rằng, Vũ Bình Lục đã là một thành viên tích cực của Viện Văn học rồi đấy! Chỉ là khen vui đấy thôi, nhưng không phải là không có phần đúng. Hỏi ông tại sao cứ đam mê làm cái công việc chả đem đến lợi ích cụ thể nào, Vũ Bình Lục bảo lương hưu dăm sáu triệu tạm đủ sống rồi, thì thời gian còn lại dành cho đam mê của mình. Thực ra, Vũ Bình Lục muốn góp phần mang đến cho bạn đọc thấy được giá trị sáng tạo vô cùng to lớn của cha ông xưa, để thêm quý yêu, nâng niu trân trọng kho tàng di sản văn hóa vô cùng đáng quý của cha ông mình, thế thôi! Đấy cũng là một cách truyền lửa cho thế hệ sau biết tổ tiên mình như thế nào, biết mình là ai vậy!

Trong phạm vi một bài báo, không thể nêu được đầy đủ những phát hiện mới mẻ của bộ sách quý này. Nhưng đọc phần tổng quan có nhan đề NGUYỄN TRÃI 600 NĂM NHÌN LẠI, thấy tác giả có những nhận xét rất thích đáng. Ông viết rằng Nguyễn Trãi vĩ đại hơn những người vĩ đại chính là ở chỗ cụ đã tiếp thu tinh hoa văn hóa của Trung Hoa, để nâng cấp nó lên thành tinh hoa văn hóa Đại Việt, thành minh triết nhân văn Đại Việt, nhằm đánh bại kẻ thù có sức mạnh quân sự và hàm lượng văn hóa sâu rộng hơn mình. “Văn chương Nguyễn Trãi có sức mạnh hơn mười vạn tinh binh” (Phan Huy Chú). “Viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời” (Lê Quý Đôn). “Cái tài làm hay làm đẹp cho nước, xưa nay chưa từng có bao giờ” (Nguyễn Mộng Tuân). Những lời ngợi ca của người xưa quả là chí lý. Vũ Bình Lục còn cho rằng Nguyễn Trãi chẳng những cứu dân tộc ta thoát khỏi cái họa nô dịch của ngoại bang, mà còn cứu cả nền văn hóa của dân tộc ta, thông qua những tuyệt phẩm thơ Nôm của ông.

3. HIỂU THÊM VỀ MỘT NHÀ VĂN RẤT QUEN VÀ RẤT LẠ

Vũ Bình Lục vốn khiêm nhường, nhưng tìm hiểu thì biết ông đã có những phản biện rất táo bạo, giúp ngành giáo dục chỉnh lý một số tác phẩm văn chương trong nhà trường, từ hơn chục năm trước. Đơn cử như ý kiến của ông về bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình...của Hồ Xuân Hương, một số bài thơ chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Trãi, một số bài thơ Cao Bá Quát, bài thơ Bạch Đế Thành của Lý Bạch v.v...Năng lực và công lao của ông chưa được nhiều người để ý đến một cách đúng đắn và đầy đủ. Hiện ông đang chuẩn bị dịch thơ và bình giải thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nguyễn Bình Khiêm, Ngô Thì Nhậm và chọn giới thiệu một số tác giả thơ thế kỷ XV ngoài Nguyễn Trãi, như Lê Thánh Tông, Lý Tử Tấn, Thái Thuận, Nguyễn Bảo...Hỏi ông sao có thể làm sách nhanh đến thế, ông bảo đấy là do ông có trí nhớ rất tốt. Kiến thức có sẵn trong đầu, chỉ cần ngồi gõ máy viết thôi. Công nghệ thông tin giúp ông làm việc rất có hiệu quả. Ông viết nghiên cứu phê bình, dịch thơ, làm thơ trực tiêp trên máy vi tính, sửa ngay trên máy. Ông bình thơ cổ và thơ của nhiều tác giả hiện đại bằng cảm hứng sáng tác say mê.

Ngoài ra, ông còn sẵn sàng nhận lời viết tham luận cho các hội thảo văn chương và lịch sử, viết lời giới thiệu sách. Vũ Bình Lục còn là người thường xuyên viết bài bình thơ trên tờ CHĂM HỌC của báo Nhi Đồng. Ông cũng được đài Truyền hình Việt Nam, đài Tiếng nói Việt Nam nhiều lần mời trao đổi về thơ ca cổ và giới thiệu về thơ của các nhà thơ đương đại Việt Nam. Những bài bút ký văn học, tản văn hoặc tùy bút của Vũ Bình Lục có nhiều chất thơ. Được biết, ông đã hoàn thành bản thảo cuốn sách ĐI QUA CHIẾN TRANH và một tập văn xuôi. Quả là một con người tài hoa, có kiến văn thâm hậu. Nhưng như trên đã nói, mấy ai biết ông là thương binh chống Mĩ, một người lính đặc công từng xông pha vào chỗ sống chết mấy năm ròng, mảnh đạn vẫn còn găm trên đầu, mỗi khi trái gió trở trời vẫn làm ông đau đớn?

Đáng nể, và đáng trọng đối với bạn đọc, bạn nghề, đó chính là Vũ Bình Lục.
 
Hà Nội 2-2016


Phạm Đình Ân/VHVN
detail1
detail2

Mới nhất

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân  và

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân và

(Vanhienplus.vn) - Chưa dám chắc Nguyễn Tuân là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Phần Lan, song tôi tin rằng ông là nhà văn Việt Nam đầu tiên…
Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi là nghệ thuật do nhân dân sáng tạo, phục vụ nhân dân và được nhân dân yêu mến, gìn giữ. Đó là nghệ thuật của hạnh phúc, vì…