Tình trong quan họ

Dân ca quan họ dù có nhiều chức năng, hình thức diễn xướng nhưng về cơ bản vẫn là một thể loại ca hát đối đáp kết bạn giao duyên và hát hội hát canh vẫn là những hình thức diễn xướng chủ yếu. Những bài hát theo Giọng vặt, giọng Giã bạn trong các cuộc hát đối đáp kết bạn giao duyên, hát hội, hát canh thường là những bài có sức sống lâu bền nhất và được lưu truyền rộng rãi nhất. Bởi vậy, có thể nói, tinh hoa của dân ca quan họ chủ yếu nằm trong mảng ca hát về tình bạn và đặc biệt là về tình yêu nam nữ.

0
31

Học giả Vũ Ngọc Phan cho rằng “Dân ca quan họ chủ yếu là xây dựng tình bạn”.  Cao Huy Đỉnh cũng nhìn nhận: “Hát quan họ là lối hát tiếp bạn lịch sự và tế nhị ở trong nhà. Một lối hát tiếp bạn tập thể rất lịch sự và tế nhị đã có phần thuần văn hoá và nghệ thuật”, “Cốt lõi văn hoá nghệ thuật của quan họ chủ yếu vẫn là tình và người” .  Chính vì quan họ là nghệ thuật của tình bạn nên không có gì lạ khi dân ca quan họ là dân ca nói về tình bạn nhiều nhất và hay nhất trong dân ca Việt Nam.

Các ngày hội quan họ là những ngày hội kết bạn, những ngày “Tứ hải giao tình”:

Hôm nay tứ hải giao tình

Tuy rằng bốn bể như sinh một nhà

 

Sự thân thiện, cởi mở, tin cậy, lòng hiếu khách, luôn luôn là cội nguồn và là một “đảm bảo bằng vàng” cho mọi tình bạn. Những điều ấy thì người quan họ rất sẵn:

Mấy khi bạn đến chơi nhà

Lấy than quạt nước pha trà người xơi

 

Đến đây thì ở lại đây

Hương trà đã đượm, trầu cay lại nồng

 

Chỉ mới là buổi sơ giao mà đã tha thiết thế, tận tuỵ thế, tin cậy thế làm sao mà một tình bạn đẹp không thể bắt đầu. Và quả thật, đắm mình trong thế giới huyền hoặc của quan họ, ta có thể cảm nhận “Một ngày sum họp trúc mai/Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm” như người quan họ cảm nhận.

Tình bạn quan họ càng thắm thiết là cái tình của bạn quan họ, trong một bọn quan họ, một đôi quan họ, giữa các bọn quan họ kết nghĩa với nhau, đối đáp cùng nhau, thi thố với nhau trong các buổi hát hội hát canh thâu đêm suốt sáng. Trong ca từ quan họ luôn xuất hiện từ “bốn tôi”, “bốn em” như một đại từ nhân xưng chỉ có trong quan họ:

Bốn em như thể con tằm

Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

Bốn em như thể con ong

Con quấn, con quít, con trong con ngoài…

 

Nhất vui bằng tối hôm nay

Vui bằng đám hội vui tày bốn tôi…

 

Dây nào xe bốn chúng tôi

Se chín lần kép, se mười lần đơn…

 

Bốn em như chiếc thuyền hoa

Yêu nhau về nết, mặn mà về duyên…

 

Quan họ cổ truyền luôn là hát đôi cùng giới, một đôi quan họ liền anh hay liền chị luôn luôn là một đã đành. Nhưng đôi đó hợp cùng đôi đối thủ trong thi tài hát đối cũng được “se chín lần kép, se mười lần đơn” để trở thành một thì thật kỳ lạ. Hoá ra, người ta thi thố với nhau không nhằm phân rõ sự hơn thua, cao thấp mà chỉ để được chia sẻ, đồng cảm, hoà hợp tuyệt đối với nhau, để trở thành một“bốn tôi” như thế.

Điều thú vị và độc đáo trong nội dung quan họ là tình bạn bao giờ cũng hết sức “gần”  với tình yêu hoặc nói như GS dân tộc học Lê Thị Nhâm Tuyết , trong dân ca quan họ có một sự “ỡm ờ”, “úp  mở”, “mờ tỏ” (chữ dùng của GS Tuyết) rất đặc trưng giữa tình bạn và tình yêu. Rất nhiều câu hát dường như không thể đoán định được đang nói về tình cảm gì, tình bạn hay tình yêu. Có người nói cái tình cảm mờ tỏ đó nếu cần phải có một cái tên thật chính xác thì nên gọi là “tình quan họ”.

Nhưng thực sự thì dân ca quan họ là cả một bách khoa thư về tình yêu đôi lứa. Những nấc thang và những cung bậc vĩnh cửu, muôn màu, muôn vẻ của tình yêu đôi lứa: giao tiếp làm quen, tìm hiểu, ướm hỏi, tương tư, tỏ tình, hẹn ước, hy vọng, nhớ thương, trách móc, hờn ghen, sầu hận, tuyệt vọng, hạnh phúc và bất hạnh… được thể hiện thật phong phú, tinh tế, quyến rũ trong dân ca quan họ.

Tỏ tình ư? Thường là bằng cách xa xôi, kín đáo, e lệ ngập ngừng một chút:

 

Ai làm đường sá xa xôi

Nào ai có biết rằng tôi nhớ người…

 

Cổ tay người trắng như thể gương tàu

Con mắt bồ câu làm cho phải khổ…

 

Chim khôn mắc phải lưới hồng

Muốn bay em gỡ búi tơ hồng cho chăng…

 

Bắc Nam đôi ngả đôi nơi

Chim khôn chết mệt về nhời nhỏ to…

 

Nhưng cũng có thể bằng cách rõ ràng hơn, tự tin hơn, cũng là câu hỏi nhưng đã ngầm ý khẳng định:

Người như cây gỗ xoan bào

Tôi như câu đối dán vào nên chăng?

 

Người như tấm vóc đại hồng

Tôi như kim tuyến thêu rồng nên chăng?…

 

Người về thưa mẹ cùng thầy

Có cho tôi kết duyên này hay không?…

 

Người quan họ yêu nhau, phải lòng nhau, vì  cái “cổ kiêu mắt phượng”, “răng đen hạt ấu”, vì “mũi chỉ đường khâu”, vì “cái bút nghiên ông đồ”, vì những “nhời nhỏ to”, vì cái đẹp cái tài cái khéo đã đành, nhưng son sắt, bền chặt chính là nhờ cái “duyên”:

Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng

 

Còn duyên ngồi gốc cây thông

Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa

 

Còn duyên buôn nụ buôn hoa

Hết duyên ngồi gốc cây đa đợi chờ

 

Và quan trọng hơn cả là nhờ tình thương, sự chia sẻ, chịu đựng, hy sinh vì nhau:

Gió đưa cây cải lên trời

Cây dăm ở cỗi chịu nhời đắng cay

 

Cầu tre ai bắc gập ghềnh

Người đi khéo ngã lấm mình em nâng

Quan họ hay nhất, phong phú, tinh tế, ám ảnh nhất là khi diễn tả cái tương tư, niềm nhớ nhung, nỗi nghi ngại, hờn trách. Tương tư trong quan họ là cái tương tư xuyên thời gian, xuyên không gian, dằng dặc, mênh mông:

Sầu về một tiết tháng Giêng

May áo cổ kiềng người mặc cho ai

Sầu về một tiết tháng hai

Bông chửa ra đài người đã hái hoa

Sầu về một tiết tháng ba

Con mắt la đà dạ nọ tương tư

Sầu về một tiết tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng buồn ăn

Sầu về một tiết tháng năm

Chưa đặt mình nằm gà gáy chim kêu…

Thương nhớ, bồn chồn da diết, thậm chí “thảm thiết” thế, tin tưởng đinh ninh vào lời thề non hẹn biển thế, nhưng vẫn thoáng nỗi nghi ngại hờn trách dù có thể là không đâu. Bởi thế mới có chuyện “Gửi bức thư sang” khuyên người đừng “ngả ngả nghiêng nghiêng”, đừng “đứng núi này trông núi nọ cao hơn/đứng sông này trông sông nọ sâu hơn”, đừng “tham vàng bỏ ngãi, tham phú phụ bần”, đừng “cam hương quít chín người chê”, nhắc nhở người rằng “ngọc còn có vết nữa là chúng em đây”, nhắn nhủ người rằng “đâu hơn người kết đâu bằng người chờ đợi em”.

Cái nền rộng, chiều sâu và tầm cao nhân văn, sự tinh tế, thanh cao của văn học quan họ về đề tài tình yêu đã góp phần quan trọng cùng âm nhạc quan họ làm nên những tình ca bất hủ trong nghệ thuật diễn xướng truyền thống Việt Nam. Từ rất lâu, người Việt Nam và các đôi lứa các thế hệ Việt Nam đã sống, lao động, chiến đấu và thương yêu nhau trong âm vang của giai điệu và lời ca quan họ. “Trống cơm”, “Hoa thơm bướm lượn”, “Cấy trúc xinh”, “Ra ngõ mà trông”, “Xe chỉ luồn kim”, “Chàng buông vạt áo em ra”, “Qua cầu gió bay”, “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Còn duyên”, “Khách đến chơi nhà”, “Thuyền thúng”, “Người ở đừng về”… đã vượt khỏi không gian các làng quan họ Kinh Bắc đến với mọi miền đất nước và vượt biên giới đất nước đến với bạn bè thế giới và được chào đón nồng nhiệt.

Cần nói rõ rằng phần lớn các bài quan họ vừa nhắc trên đều là các bài quan họ đã được một số nhạc sĩ nổi tiếng ghi âm, tân nhạc hoá để dễ truyền bá, phổ biến, về mặt âm nhạc “hương đồng gió nội” đã bị “bay đi rất nhiều”. Tuy nhiên về mặt ca từ, lời ca gần như vẫn được giữ nguyên vẹn có lẽ bởi sự toàn bích khó có thể cải biên, thêm bớt để hay hơn.

Ta hãy  xem trường  hợp  bài “Người ở đừng về”. Đây là bài hát được nhạc sĩ Xuân Tứ lấy giai điệu và lời ca của hai bài quan họ nổi tiếng thường được hát trong giọng Giã bạn ở chặng  cuối  của  một canh quan họ là “Chuông vàng gác cửa Tam Quan’ và “Tua rua chưa đến đỉnh đầu” để cấu tạo, biên soạn lại mà thành. “Người ở đừng về” như chúng ta đã biết hiện nay. Tuy vẫn có âm hưởng giai điệu của “Chuông vàng gác cửa Tam Quan” và “Tua rua chưa đến đỉnh đầu”  nhưng cấu tạo âm nhạc “Người ở đừng về” không hoàn toàn giống với hai bài quan họ truyền thống trên. Tuy vậy, về ca từ thì gần như nguyên vẹn lời ca của “Tua rua chưa đến đỉnh đầu”, nhạc sĩ chỉ đảo hai câu “Người về em dặn người rằng/Đâu hơn người kết đâu bằng đợi em” từ vị trí ở phần mở đầu thành hai câu cuối bài hát. Dưới đây là lời ca bài “Tua rua chưa đến đỉnh đầu”:

Tua rua chưa đến đỉnh đầu

Bây giờ người nhớ bạn đâu người về

Người ơi người ở đừng về

Người về em dặn người rằng

Đâu hơn người kết đâu bằng người đợi em

Người về em vẫn khóc thầm

Đôi bên vạt áo ứơt đầm như mưa

Người ơi nguời ở đừng về

Người về em vẫn trông theo

Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi

Người ơi người ở đừng về

Người về em dặn tái hồi

Người về em chả đứng ngồi với ai

Người về em dặn mấy nhời

Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua

Người ơi người ở đừng về.

Trường hợp “Người ở đừng về” và hàng loạt bài dân ca quan họ được các nhạc sĩ hoặc nhạc công nhạc mới ca khúc hoá, tân nhạc hoá để trình diễn phổ biến, âm nhạc có thể cấu trúc lại, “bỏ thô lấy tinh” theo quan niệm của các nhạc sĩ, nhưng lời ca thì vẫn phải trông cậy hoàn toàn vào lời quan họ truyền thống. Thế mới biết sức chinh phục của ca từ quan họ là lớn đến mức nào. Đó là những lời ca bất chấp mọi thử thách của thời gian.

 

Nguyễn Thế Khoa/VHVN

Phản hồi

Nhập bình luận
Nhập tên bạn