Văn Hiến Plus

Tôi viết trường ca 'Người khiêng võng'

01/01/2018 13:24:15
(Vanhienplus.vn) - Viết ra được một tác phẩm, nhiều khi là một cái duyên. Nhiều khi, do may mắn. Nhiều khi, nhận được sự phù hộ. Trong đó, yếu tố “được phù hộ” có thể là quan trọng nhất. Tôi có cảm giác, khi từ trong tâm tưởng tôi xác quyết mình là người hữu thần, thì những tác phẩm của tôi viết ra thường rất nhanh, nhiều lúc như xuất thần. Không có sự phù hộ, thật khó để một người bình thường như tôi có thể hoàn thành những tác phẩm dài hơi như trường ca trong một thời gian ngắn đến vậy. Đó cũng là trường hợp khi tôi viết trường ca “Người khiêng võng”.
 >> Lê Đại Cang như kẻ sĩ Bắc Hà
>> Lê Đại Cang - bài học làm người, làm quan sâu sắc mà ông đã để lại cho hậu thế.
>> Danh nhân Lê Đại Cang và hành trình nghiên cứu tôn vinh ông



Tôi có may mắn được dự hai cuộc hội thảo về Lê Đại Cang, một cuộc ở Qui Nhơn, một cuộc ở Châu Đốc. Trong lần dự hội thảo thứ hai ở Châu Đốc, tôi được đi viếng Đền thờ Bà Chúa Xứ. Đó là Bà Chúa linh thiêng của lưu dân Nam Bộ, mà tôi thì từ rất lâu rồi đã tự xếp mình vào hàng ngũ những lưu dân ở miền sông nước phương Nam này.

Trong chiến tranh chống Mỹ, tôi đã lang thang ở miền đất này tròn 5 năm, và cũng đã trải nghiệm được khá nhiều. Nhưng có lẽ trải nghiệm lớn nhất của tôi là niềm vui được thấy mình trở thành một cư dân của vùng đất được tạo nên bởi những lưu dân, những dân lậu dân ngụ, những người là nhân vật chính trong trường ca “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc” mà tôi đã viết lên với tất cả lòng yêu thương và ngưỡng mộ.

Tôi lại có 10 năm-từ năm 1979 tới năm 1989 -được sống ở Qui Nhơn.
 
Hội Thảo Lê Đại Cang với Bắc Thành và Hà Nội.
Hội Thảo Lê Đại Cang với Bắc Thành và Hà Nội.
 
Trong khi quê Lê Đại Cang ở Tuy Phước, rất gần thành phố biển Qui Nhơn. Nếu Bình Định là một chiếc “nôi văn hóa” của miền Trung, thì Tuy Phước là vùng đất đậm đặc văn hóa của Bình Định. Tôi đã có nhiều dịp về chơi ở Tuy Phước, và tôi cảm nhận thiên nhiên ở đây không chỉ đẹp mà còn được văn hóa phủ sóng, từ văn hóa Chàm tới văn hóa Việt, từ những tháp Chàm tới những đình chùa miếu mạo làm nên sự giao hòa giữa văn hóa Việt và văn hóa Chàm. Nơi ấy mà sinh ra những con người đặc biệt như Lê Đại Cang cũng là chuyện bình thường. Người ta nói một vùng đất “địa linh” thì phải sinh ra “nhân kiệt”, không thể khác.

Tuy Phước là một cái nôi của nghệ thuật Tuồng Bình Định, quê hương của Đào Tấn vĩ đại. Có một đặc chất của Tuồng mà tôi cảm nhận được, là Tuồng biểu dương, ngưỡng mộ những con người nghĩa khí, ca ngợi đức hy sinh và tinh thần chịu đựng, vượt qua nghịch cảnh vì nghĩa lớn. Chính nó đã góp phần tạo nên tính cách của người Bình Định.

Người Bình Định nghĩa hiệp, nhưng giàu đức hy sinh và khả năng chịu đựng. Đó là “sự chịu đựng mang tính triết học”, chứ không phải sự cam chịu. Chịu đựng mang tính triết học nhiều khi là sự chịu đựng lịch sử. Đó là sự chịu đựng khi nhận thức ra một tiến trình, nó là sự chịu đựng tích cực vì khao khát thay đổi, sẵn sàng chấp nhận thất bại khi thay đổi.

Lăng mộ Lê Đại Cang ở quê hương  - Ảnh Đào Tiến Đạt.
Lăng mộ Lê Đại Cang ở quê hương  - Ảnh Đào Tiến Đạt.

 
Lê Đại Cang là một người chịu đựng lịch sử, là người khát khao thay đổi và dám làm dám chịu. Ông ra Bắc vào Nam, lúc chỉ huy đánh giặc, lúc đắp đê ngăn lũ, khi đào kênh thủy lợi và giao thông, lúc âm thầm…khiêng võng:

“tôi sinh ra làm người khiêng
  trách nhiệm
  làm người khiêng
  số phận
  làm người khiêng
  lo lắng
  làm người khiêng
  cay đắng”

Đó là người ý thức rằng mình đang “khiêng” một sứ mệnh.

Nhưng nói ta đang “khiêng” một sứ mệnh có vẻ dễ chịu và oai hơn khi nói ta phải trực tiếp võng một người to béo, có thể vốn là quan chức cấp thấp dưới quyền mình. Lê Đại Cang chấp nhận cả sự thật đó:

“những dấu chân vẽ nên con đường
dấu chân người khiêng võng
quan nằm trên khá nặng
vốn là kẻ dưới quyền
đây tùy duyên
hay tùy phận ?
 
những bước chân không lấn bấn
đòn khiêng nghiến trên vai
những giọt mồ hôi lắng
rơi thấm con đường dài”

Không chỉ một lần bị giáng cấp phải làm lính khiêng võng, nhưng Lê Đại Cang không hề nản lòng. Dù sự đày ải này thách thức ghê gớm khả năng chịu đựng của một con người, nhất là khi người ấy đã là một vị quan cỡ đại thần. Đó là điều khiến tôi kính phục nhất ở Lê Đại Cang, trước cả những chiến tích cũng như những công tích của ông.  

Ra đi từ Huế, rồi từ làng quê Tuy Phước, trong những bước thăng trầm của cuộc đời, Lê Đại Cang luôn nhớ về cha mẹ mình, về chốn làng quê Bình Định thương yêu của mình, như bất cứ một đứa con bình thường nào:

“mẹ ơi
làng quê mình tuy mang tên Tuy Phước
nhưng mỗi mùa đều lũ lụt
buổi chiều mẹ nghe bìm bịp kêu
hun hút
nhớ đứa con lận đận cuối chân trời
đời làm quan khác chi ngồi trên lửa
biết đâu là may rủi mẹ ơi”

Câu hát “khiêng võng cho quan, à la, khiêng võng cho quan” lặp lại tới mấy lần trong trường ca này, như một hài hước cay đắng, và như sự chấp nhận. Nói “à la”, chẳng có nghĩa gì cả, nhưng cũng có nghĩa là “ô kê” như bây giờ chúng ta hay nói. Khiêng võng cho quan, ô kê, thì khiêng võng cho quan. Có hai đoạn thơ trong trường ca mà tôi cảm thấy thấm thía, đó là hai đoạn hồi tưởng của Lê Đại Cang về quê nhà Tuy Phước và về xứ Huế, nơi gia đình ông đã sống nhiều năm, nơi ông sinh ra lớn lên rồi được học hành. Khúc hồi tưởng về quê hương Tuy Phước như thế này:

 “nhớ mắm ruột cá ngừ thơm lựng
mẹ bưng lên cùng với đĩa cà
nhớ mùi cơm lúa de gạo mới
chiếc nong thành mâm sum họp cả nhà
 
có những đêm trăng treo đầu ngõ
lũ trẻ hò reo tiếng trống xa xa
tôi đi qua tuổi thơ về xịch mở
một mùi hương quấn quýt la đà
 
hoa bưởi ơi làm sao mất được
những vẩn vơ tha thiết tình đầu
bây giờ tôi như người đi câu
thỉnh thoảng giật từng cơn ký ức
 
rằm tháng Bảy trong tôi chợt thức
nỗi nhớ mẹ cha mình cách biệt nơi nao
nợ nước ơn Vua đấng sinh thành dưỡng dục
suốt đời con xin đội trên đầu
 
con bất hiếu chỉ vì trung với nước
những thác ghềnh không đánh gục được con đâu
xin mẹ như giàn trầu cha thiết mộc
đứng bình tâm qua mưa bão dãi dầu
 
con sẽ về quê áo xiêm trả lại
chỉ mong nghe bên thành giếng tiếng va gàu
tiếng trăng chảy long lanh trong lòng nước
tiếng chim chiều chen tiếng mõ trâu”

Xin nhắc nhớ một chút, Lê Đại Cang là nhà thơ, tác giả của mấy tập thơ tuy bây giờ không còn lưu lại văn bản, nhưng trong tâm cảm ông, thơ vẫn luôn hiện diện. Những cảm xúc của ông khi nhớ về quê nhà là những cảm xúc của một nhà thơ, chứ không phải của ông quan, dù là quan đại thần. Vì thế ông mới nghe được “tiếng va gàu” bên thành giếng.  Thơ hiện diện với con người chính vào những lúc như thế.

Và đây là cảm xúc khi Lê Đại Cang nhớ về xứ Huế, quê hương thứ hai của ông, nơi ông sinh ra:

“cánh diều xanh trên núi Ngự Bình
bay nghiêng nghiêng dọc sông Hương
phải nơi này tôi sinh
mập mờ mây khói
 
mẹ ơi đâu là nơi cắt rốn chôn nhau
cha mẹ vốn làng quê Tuy Phước
lại đẻ con cuối dòng Hương lặng nước
với con, Huế chợt quê nhà
 
Huế bánh bèo bánh nậm bánh đa
Huế cơm hến mà canh cũng hến
hoa mộc thơm lên chùa Phật hiện
dòng Hương vang tiếng gõ mạn thuyền
 
một người tựa cửa Hiển Nhơn
thổi sáo
một người đi không biết về đâu
chiều Ngọ Môn mây vàng lấp lối
tôi tìm cây ríu rít chim sâu
 
sao mà thèm bánh bèo Đập Đá
thương miên man cháo bò Đại Nội
về Thủy Dương ăn cá lóc bánh canh
dáng Huế như cô gái nhà lành
 
tuổi thơ tôi ở tầng sâu quên nhớ
ngựa nào dừng chân dưới bóng ngô đồng
đôi lúc ngồi tập đọc dòng sông
thuộc từng con cá hanh bống thệ”

Nhà văn Nguyễn Thế Khoa, một hậu duệ phía ngoại của Lê Đại Cang, khi đặt hàng tôi viết trường ca “Người khiêng võng” đã nhớ ra ngay, tôi có 5 năm ở chiến trường Nam Bộ, và 10 năm ở Qui Nhơn. Có một điều anh Khoa quên, hoặc chưa nhớ ra, tôi là con rễ xứ Huế. Từ mấy chục năm nay, Huế đã trở nên thân thiết với tôi, vì mỗi năm tôi đều nhiều lần ra Huế, dù thời ở Qui Nhơn hay thời đã về Quảng Ngãi. Huế là quê ngoại của các con tôi, nơi đứa con trai đầu lòng của tôi được sinh ra. Mỗi vùng đất mà mình thân thiết đều để lại những dấu ân sâu đậm trong tâm hồn mình, và đó là cơ sở cho những tác phẩm.

Dù cha mẹ đều quê Tuy Phước, nhưng Huế mới là nơi sinh Lê Đại Cang. Ông gắn bó với kinh đô này là phải. Những hồi ức của Lê Đại Cang là những ám ảnh của một người chinh chiến, một người đắp đê, một người lang thang, một người cơ nhỡ chất chứa bao vui buồn của phận người. Đó là một con người đặc biệt với một số phận đặc biệt. Nhưng bình dị biết bao là những hình ảnh khi con người này nhớ về quê hương mình:

“nhiều năm sau tôi trở về quê mẹ
nghe ngọt lành câu hát đẩy đưa:
“ muốn ăn bánh ít lá gai
lấy chồng Bình Định cho dài đường đi”
 
thuyền ngược lên Gò Bồi Tuy Phước
ngọn Tháp cổ  nhìn tôi ngơ ngác
giọng ấm trầm như chú bác ở quê:
“sao giờ con mới về ?”
 
dạ, con như người cơ nhỡ
quê nơi này lại đẻ nơi kia
số con cực sau này không yên chỗ
mùi ổi đào dẫn lối đêm khuya
 
cây ổi lão ở làng Luật Chánh
chìa cành trĩu quả đón tôi
như bàn tay mẹ xoa trên tóc
mùi thơm vướng vất rất sâu
 
“xưa nay chinh chiến mấy ai về”(*)
nhưng con thở trước nhà mình rồi mẹ
rào chè xanh ba gian lá mái
bình dị như một câu Đường thi
 
bao tâm sự rối bời hơn tóc bạc
bìm bịp kêu nơi bến đá bờ tre
con chim thương phận người lưu lạc
còn ta thương đồng ngập nước mỏi mê
 
bìm bịp ơi xin nhận ta là bạn 
cả đời khắc khoải với dân quê
ta xa xứ lòng luôn cố xứ
trong giấc mơ thường thấy ngày về"

Khi "mùi ổi đào dẫn lối đêm khuya" không chỉ dẫn dắt Lê Đại Cang là nhân vật chính, mà còn dẫn dắt tôi là người viết trường ca này, thì tôi nghĩ thơ mình đã đi đúng hướng. Là một người Việt tự sâu thẳm, một người Bình Định tự căn cốt, và một người thăm thẳm như dòng sông Hương nơi ông sinh ra, Lê Đại Cang quả là một con người rất đặc biệt. Nhưng nếu trong trường ca không nói tới miền quê sông nước Cửu Long  thì vẫn thiếu một phần quá lớn trong cuộc đời thăng trầm của Lê Đại Cang. Tôi đã giành một phần quan trọng trong trường ca cho quãng đời Lê Đại Cang ở Nam Bộ, ở Châu Đốc, khi ông làm Tổng đốc An-Hà, cả khi ông phải làm lính khiêng võng:

"cùng quân lính tôi gối bờ nằm bụi
chỉ mong sao đất nước yên bình
không còn giặc giã đao binh
 
với những chiến hữu dưới quyền
họ theo tôi như gà con theo mẹ
một chén rượu hòa chung tình sông Hậu
bao người vui trong ráng đỏ hoàng hôn
 
và nồi canh chua nấu bông so đũa
cá hú hay là cá ngát đây ?
bỗng chốc tôi thành dân mộ nghĩa
chuyền tay nhau một chén rượu đầy”

Mỗi lần đất nước phải động binh, lại thấy Lê Đại Cang dẫn đầu đoàn quân mộ nghĩa, mỗi lần phải sát cánh cùng dân Bắc Hà đắp đê ngăn lũ, lại hiện lên bóng dáng cần mẫn của Lê Đại Cang:

“nhiều lúc như ngồi trước cơn giông
thương những người dân Bắc Hà đắp đê ngăn lũ
buổi trưa họ ăn mấy củ khoai uống ngụm nước chè
sợ quan còn hơn lo đê vỡ
 
tôi đau lòng khi nhìn thấy họ
đứng tái mặt trước mình
không! Tôi không phải loại quan như thế
cứ thấy dân nghèo là rẻ khinh
 
bấy giờ đắp đê chỉ sức người là chính
nhiều khi tính quá cũng nhầm
lũ thì dữ thân đê có hạn
nên mùa mưa đê vỡ lũ tràn dâng
 
tôi từng phải cắn răng chịu tội
nhiều lần được khen mà lòng bối rối
đất nước mình tai ương nhiều quá đỗi
khen hay chê cũng thế mà thôi
 
chỉ biết tận sức già lo mãi
cứ ngỡ làm cho Vua hóa ra làm cho dân
mỗi con kênh đào mỗi đê quay vững chãi
làng xóm vui tôi như được hồng ân”

Chỉ ước mong thời nay có được những ông quan như thế.

Khi viết xong dòng cuối trường ca này, tôi có cảm giác đúng như cảm giác của Lê Đại Cang khi hạ võng: ông quan lớn hay nhỏ gì đó bước ra, và tất cả như trút được một gánh nặng. Chỉ có điều, với Lê Đại Cang là gánh nặng của trách nhiệm, của bổn phận hay của gì đó nữa, còn gánh nặng của tôi chỉ là gánh nặng nghĩa tình. Nhiều khi, đó không hề là gánh nặng.
 
 Thanh Thảo/VHVN
detail1
detail2

Mới nhất

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân  và

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân và

(Vanhienplus.vn) - Chưa dám chắc Nguyễn Tuân là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Phần Lan, song tôi tin rằng ông là nhà văn Việt Nam đầu tiên…
Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi là nghệ thuật do nhân dân sáng tạo, phục vụ nhân dân và được nhân dân yêu mến, gìn giữ. Đó là nghệ thuật của hạnh phúc, vì…