Văn Hiến Plus

Những ngày đầu với anh Ngọc!

30/12/2017 11:29:49
Nếu không có nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đời tôi có thể rẽ sang một hướng khác, có thể không phải là người viết văn như bây giờ.
Đầu năm 1970, sau những tổn thất nặng nề vụ Tết Mậu Thân, những đợt phản kích quyết liệt của quân Mỹ trong năm 1968 và những ngày đen tối suốt năm 1969, các đơn vị chủ lực của quân khu 5 cơ bản đã bị đánh bật khỏi những địa bàn đứng chân quen thuộc. Trong một lần báo cáo với quân khu, chính ủy sư đoàn 2 Nguyễn Huy Chương nói: Hiện nay sư đoàn đang dạt về phía tây mót sắn cầm hơi. Tư lệnh quân khu Chu Huy Mân thảng thốt: Trời ơi, lấy đau ra sắn cho một sư đoàn mót. Trung đoàn 38 của tôi, lúc đó trực thuộc mặt trận 4 (Quảng Đà) được tăng cường như một lữ đoàn cũng chịu chung hoàn cảnh đó.

Trung đoàn hành quân lên đường dây 559, chỉ để lại một bộ phận nhỏ bám trụ địa bàn. Đại đội quân y của tôi (thường gọi là C20) cử một bộ phận ở lại do đại đội phó Vì Văn Léo phụ trách, tôi lúc đó là quân y sĩ B trưởng điều trị cũng được phân công ở lại. Vài chục con người bám trụ trong khu rừng già mà  mấy hôm trước thôi là nơi ở của đại đội quân y, đại đội vận tải và cùng hàng trăm thương bệnh binh làm tôi có cảm giác thật chỏng chênh. Đang giữa mùa mưa, các trận đánh thưa thớt, đại quân đã về tuyến sau nên thương binh, bệnh binh cũng không nhiều. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là tổ chức các chuyến xuống đồng bằng cõng gạo nuôi sống mấy chục con người trong những cơn mưa rừng dữ dội làm những con suối hiền hòa mùa khô thành thác, thêm vào đó là những chốt cặn của quân Mỹ, quân Sài Gòn dày đặc ở các cửa ranh cô lập chúng tôi.

Một buổi sáng, y tá Đan người Hà Nội dẫn một tiểu đội xuống cửa ranh cõng gạo vừa ra khỏi đơn vị khoảng nửa giờ thì có tiếng súng nổ. Tiếng AR15 và M79. Địch đã ở ngay gần bệnh xá và tốp cõng gạo đã bị phục. Chúng tôi triển khai chiến đấu. Một tổ phải ra chốt ở sườn đồi sát con đường vào bệnh xá. Việc quan trọng nhất là đưa thương binh, bệnh binh sang một hang đá cách đó nửa giờ, nơi đã chuẩn bị sẵn. Mọi việc làm xong trong một giờ. Địch không đi theo đường chính mà luồn rừng vào bệnh xá. Lực lượng là một đại đội biệt kích, chúng ập vào phá tan nát bệnh xá rồi lặng lẽ rút đi. Đến trưa chủ nhiệm hậu cần trung đoàn, cũng không biết biệt kích càn, tạt qua bệnh xá để về sở chỉ huy gọn nhẹ mà ông được phân công ở lại chuẩn bị cho trung đoàn quay về đồng bằng sau này đã kinh ngạc khi bệnh xá tan hoang. Địch lôi bông băng trong kho thuốc ra rải khắp nơi. Nhưng căn lán của thương bệnh binh cháy nham nhở. Hai con lợn và đàn gà bị bắn chết. Đại đội phó Vì Văn Léo bị kiểm điểm nặng nè vi bỏ bệnh xá là hành động thủ tiêu chiến đấu.
 
Nhà văn Nguyên Ngọc.
Nhà văn Nguyên Ngọc.

Chúng tôi phải rút sâu vào chân núi Bàn Cờ, phía tây huyện Đại Lộc, Quảng Nam, lại đào hầm dựng lán để đón thương binh, bệnh binh. Lúc này đang là mùa mưa, đại quân chưa xuống, các trận đánh lẻ tẻ, thương binh không nhiều, chỉ bệnh binh thì không giảm mà phần nhiều là sốt rét. Từ ngày vào chiến trường chưa có khi nào tôi rảnh rỗi như lúc này, vài chục thương binh, không có ca nào nặng trong buổi sáng chúng tôi giải quyết xong công việc. Ban đêm cũng phân công trực bệnh chu đáo nhưng ít phải xử lý gì. Có sẵn tập giấy trong gùi lại đang lúc rảnh rỗi, tôi đâm ra viết văn.

Tôi viết hẳn một cuốn tiểu thuyết lấy tên là “Chuyển thương” kể về chuyến chúng tôi chuyển thương binh từ mặt trận Huế lên đường dây 559 vào chính giữa mùa mưa năm 68 rất gian nan vất vả, chuyện trong tiểu thuyết gần như thật. Tôi viết cũng nhanh khoảng vài tháng thì xong, dày trên 100 trang A4 bây giờ, chữ lít nhít. Không có máy chữ tôi chép tay thêm một bản gửi cho nhà văn Nguyễn Trung Thành, tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ. Thực tình gửi thì gửi cũng chẳng hy vọng được in, cũng không tin sẽ có trả lời nhanh.

Sang năm 1971, một buổi chiều anh Tuấn trên tiểu ban cán bộ trung đoàn gọi tôi lên và nói: Quân khu điều cậu về trên ấy. Tôi ngạc nhiên nói: “lính tráng như tôi làm sao được điều về quân khu, về bộ phân nào anh?”. Anh Tuấn lụctìm bức công điện: Đây rồi, về chỗ ông Nguyên Ngọc. Đêm ấy và vài đêm sau tôi không ngủ được. Được nhìn thấy nhà văn Nguyên Ngọc là đã sung sướng rồi, huống gì được làm  lính của ông. Nhưng hai tháng sau tôi mới rời trung đoàn, nghe nói chủ nhiệm quân y không muốn tôi đi.

Nhân có chuyến các thủ trưởng trung đoàn lên quân khu họp, tôi được nhập đoàn hành quân bốn ngày đủ đến trạm tiếp nhận. Ở đây người ta không cho vào khu A ngay (Khu A là nơi khu ủy Bộ Tư lệnh quân khu và các cơ quan trực thuộc trong đó có Cục Chính trị nơi tôi về nhận công tác) mà phải chờ phòng Bảo vệ thẩm định mới được vào, thường là 3, 4 ngày. Những ngày đó tôi ở rẫy của Báo Quân giải phóng Trung Trung Bộ, nhà thơ Hồ Ngọc Sơn, tác giả bài thơ Tình em lúc đó đang rất nổi tiếng đưa tôi lên rẫy hái bắp.

Là lính chủ lực, lần đầu được tiếp xúc với chuyện rẫy rừng nên tôi không thể quen ngay được. Sau một ngày cứ hái đầy gùi rồi cõng về kho ba bốn vòng, tối về người tôi ê ẩm. Khi đã dần quen thì có giao liên đến, báo tôi không vào khu A mà đến nơi đoàn văn công quân khu đóng quân, nhà văn Nguyên Ngọc đang ở đó.

Đến giờ tôi vẫn nhớ ấn tượng lần đầu gặp anh Ngọc. Người anh thấp nhưng đậm dáng vẻ nhanh nhẹn. Anh chỉ cho tôi chỗ mắc võng, bắt đầu nói chuyện không phải chuyện văn chương mà là chuyện đời. Đó là một bất ngờ với tôi. Anh hỏi tôi quê quán. Tôi nói nhà tôi cách nhà anh Nguyễn Minh Châu chỉ vài chục mét, qua một con ngõ nhỏ. Anh chú ý ngay câu chuyện. Trong ánh mắt Nguyên Ngọc tôi đọc được một tình cảm đặc biệt của anh với anh Châu. Tôi kể chuyện thời cải cách ruộng đất, lúc đó tôi chỉ mười tuổi trên đường đi học, qua bài đấu tố địa chủ đọc được câu khẩu hiệu: “Đả đảo tên đại địa chủ, cường hào ác bá, thống trị ngư dân Nguyễn Huy Phiên”. Nguyễn Huy Phiên là bố anh Châu. Nhà anh Châu giàu nhất làng, có khoảng 20 mẫu ruộng, mười chiếc thuyền đánh cá và ông cụ có làm lý trưởng. Đặc biệt gia đình anh Châu có một tòa nhà lớn gần hai dãy nhà và một cái sân rộng, bọn con nít chúng tôi thường vào đó vui đùa mà không bị người nhà xua đuổi. Trước chiến dịch Điện Biên Phủ, ông cụ đã khao một tiểu đoàn nhiều bữa tiệc trong cái sân này để chiến sĩ lên đường chiến đấu. Có một nhạc sĩ nghiệp dư của tiểu đoàn đã sáng tác bài hát ca ngợi cụ, mở đầu là câu: Làng ta có ông Lý Bích … (chị Bích là con đầu trong gia đình). Năm 1949, Pháp đổ bộ lên Quỳnh Lưu, đốt hết thuyền đánh cá của nhà tôi, mẹ tôi phải vay tiền ông Lý để đóng thuyền đi biển, tất nhiên là có tính lãi. Trong cải cách ruộng đất, mẹ tôi bị ép lên đấu tố ông Lý, bà lần lựa không lên, lúc thì lấy cớ đau đầu, lúc thì lên chợ Giát thăm cậu tôi đang ốm. Bà nói: người ta cho vay tiền giúp đỡ làm ăn sao lại đấu tố họ. Sau mấy ngày đấu tố, tòa tuyên án: Tên Nguyễn Huy Phiên đáng bị tử hình, nhưng vì có năm người con đi bộ đội nên hạ xuống chung thân”. Anh Châu là em út, trong năm người con bộ đội ấy. Ông cụ mất trong tù…

Anh Ngọc hỏi tôi đã đi những chiến trường nào. Tôi nói là lính của trung đoàn 90, sư đoàn 324 xuất thân từ khu 5. Nhập ngũ là tôi vào đường 9 rồi sang Lào, năm 1967 đánh trận Do An ngoài Quảng Trị, năm 1968 xuống Huế, đầu năm 1969 thì vào khu 5, lúc đầu trực thuộc Mặt trận 4 (Quảng Đà) rồi về sau sát nhập vào sư đoàn 2. Câu chuyện đến đây thì tới giờ ăn trưa.

Cả buổi chiều rồi buổi tối, rồi ngày hôm sau nữa anh Ngọc nói với tôi những suy nghĩ của mình về cuộc chiến này. Tôi há hốc mồm ngồi  nghe suốt từng lời của anh. Tôi có cảm giác điều gì anh nói ra đều đúng cả. Cuối cùng anh cũng nói về văn chương. Anh nói về cái bản thảo Chuyển thương của tôi. Đại ý là tác giả có vốn sống viết sinh động nhưng chưa phải là tác phẩm nghệ thuật. Tôi rất xúc động được một nhà văn như anh đọc những trang viết “nhảm nhí” của mình. Nơi anh Ngọc ngồi nói chuyện với tôi có thể quan sát được các nghệ sĩ trẻ, đẹp như tiên, rất nhiều người từ Hà Nội vừa mới được bổ sung cho đoàn văn công quân khu đang tập hát múa. Thế giới này khác xa với thế giới lầm lũi ở đơn vị mà tôi vừa chia tay.

Anh Ngọc phân công tôi về nơi sản xuất tự túc của Ban Văn học tận bên kia núi Đak Sao thuộc huyện 40 Kon Tum,  vừa phụ các anh trên ấy thu hoạch bắp vừa sửa chữa những điều khiếm khuyết trong những trang tôi đã viết.

Trong cả toàn quân, mà có thể cả thế giới chẳng có cơ quan như cơ quan chúng tôi. Thông lệ các anh em hoạt động văn học nghệ thuật ở các quân khu thường do Phòng Tuyên huấn quản lý, có nơi là báo của quân khu. Chỉ có quân khu 5, có một Ban Văn học, trực thuộc Cục Chính trị quân khu. Ai cũng biết rằng có chuyện này là do vị thế của nhà văn Nguyên Ngọc, lúc đó lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành. Anh Ngọc còn là Chủ tịch Hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ, lãnh đạo anh em văn nghệ sĩ dân chính thuộc Tiểu ban Văn nghệ, Ban Tuyên huấn khu ủy 5, nơi có những văn nghệ sĩ nổi tiếng: Phan Tứ, Phan Huỳnh Điểu, Vương Linh, Lưu Trùng Dương, Chu Cẩm Phong, Bùi Minh Quốc, Trần Văn Thủy, Dương Thi Xuân Quý, Cao Duy Thảo, Thanh Quế, Ngô Thế Oanh Nguyễn Khắc Phục, Phương Thảo… Có một câu chuyện nói lên uy tín của nhà văn Nguyên Ngọc ở khu 5 thời ấy.

Anh Cát phó phòng Tuyên huấn quân khu sau một cuộc họp bên khu ủy đã kể với tôi. Bí thư khu ủy Võ Chí Công đã nói trước những người dự họp là cán bộ trung cao cấp rằng: Tôi và anh Hai Mạnh (tướng Chu Huy Mân – Tư lệnh quân khu) đã lớn tuổi rồi, cống hiến chắc không được bao nhiêu nữa. Chúng ta phải bảo vệ cho được hai con người là niềm hy vọng của khu Năm đó là đồng chí Nguyễn Chơn và đồng chí Nguyên Ngọc.

Cuối 1971, ngoài những người đã có trong biên chế Ban Văn học như Lương Tự Miên, Ngân Vịnh (làm thơ) Vũ Phong Tạo sau này là nhà văn dịch văn học Trung Quốc nhưng lúc đó là viết ký, Nguyễn Bá Đắc (Gia Vi) sau này có truyện vừa Hoa lông chông trên cát đặc sắc. Họa sĩ Trần Hoàng Sơn sau này làm giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thơ Thu Bồn thì đã cõng con ra Bắc. Nhà điêu khắc Tạ Quang Bao từ đoàn Văn công quân khu và họa sĩ Lê Hải Anh được điều từ Trung đoàn 38 lên có thêm bốn nhà văn trẻ từ khóa viết văn đặc biệt đào tạo cho chiến trường miền Nam của nhà văn Nguyên Hồng tăng cường cho Ban là Nguyễn Hồng, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Bảo, Nguyên Trí Huân. Ban văn học quân đông, không khí vui vẻ lên rất nhiều. Chúng tôi được tập trung để nghe hai thủ trưởng Nguyên Ngọc, trưởng ban; Nguyễn Chí Trung, phó ban, Bí thư chi bộ, truyền đạt những diễn biến của tình hình chiến trường khu 5 và nhiệm vụ năm 1972. Chúng tôi cũng sôi nổi trao đổi với những dự định sáng tác của từng người.

Sau Tết, tất cả anh chị em đều phấn chấn tỏa đi các chiến trường, các đơn vị. Tôi được phân công đi chiến dịch giải phóng Đăk Pêt, bây giờ là huyện Đăk Lei, Kon Tum.

Trong khi ở các chiến trường khác đang phát triển thuận lợi, quân ta đã giải phóng Quảng Trị, ở Tây Nguyên hướng Đăk Tô – Tân Cảnh thắng lớn, đang tiến về Kon Tum, thì ở chỗ chúng tôi gặp khó khăn. Cứ điểm Đăk Pêt do một tiểu đoàn biệt động Sài Gòn chốt giữ, quân ta nhiều lần tấn công mà không dứt điểm được, chuyển sang bao vây, đánh đấm lùng bùng cả mấy tháng. Trong thời gian đó, tôi viết được truyện ngắn Lòng cha rồi gửi theo đường giao liên về cơ quan. Hết chiến dịch trở về Ban Văn học, vừa đến chân dốc thì thấy anh Ngọc đang chạy xuống, anh ôm lấy tôi và nói: “Mình đã đọc truyện Lòng cha của Lợi, đang cho in tạp chí số này”, giọng nói, cử chỉ, nhất là đôi mắt của anh làm tôi rất xúc động…


Thái Bá Lợi/VHVN (Trích từ NGƯỜI THẤT BẠI SÂU SẮC)
detail1
detail2

Mới nhất

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân  và

Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân và

(Vanhienplus.vn) - Chưa dám chắc Nguyễn Tuân là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Phần Lan, song tôi tin rằng ông là nhà văn Việt Nam đầu tiên…
Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi - nghệ thuật hồn nhiên

Bài chòi là nghệ thuật do nhân dân sáng tạo, phục vụ nhân dân và được nhân dân yêu mến, gìn giữ. Đó là nghệ thuật của hạnh phúc, vì…