Lê Đại Cang – bài học làm người, làm quan sâu sắc mà ông đã để lại cho hậu thế

(Vanhienplus.vn) - Sáng nay (16/12), tại Hà Nội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Trung Tâm nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hiến Việt Nam tổ chức Hội thảo: “Lê Đại Cang với Bắc thành và Hà Nội”.

0
19

Hơn 100 nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn nghệ sĩ đến từ nhiều tỉnh, thành phố trong nước tham dự hội thảo đã tập trung nghiên cứu, đánh giá những đóng góp to lớn của Lê Đại Cang trong gần 20 năm ông thực thi trách nhiệm tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; tổng kết, đánh giá toàn bộ sự nghiệp, con người Lê Đại Cang cũng như bài học làm người, làm quan sâu sắc mà ông đã để lại cho hậu thế.

Tại hội thảo, các đại biểu đều thống nhất, cuộc đời Lê Đại Cang từ năm 31 tuổi cho tới năm 72 tuổi, là cuộc đời một người làm quan bôn ba lận đận, thăng trầm, ra Bắc vào Nam, sang cả Cao Miên, nhưng là cuộc đời một ông quan mà đời sau phải kính nể, học tập. Đó là một tấm gương của một quan chức tận tụy vì dân vì nước, trên tuân mệnh vua, dưới cốt an dân, làm điều tốt điều lợi cho dân. Lê Đại Cang đã thể hiện một nhân cách phi thường, một bản lĩnh kẻ sĩ phi thường.

Giáo Sư, Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc chia sẻ: “Từ lâu, trong các sách địa phương, nhân vật chí về quê hương Bình Định, tên tuổi và sự nghiệp của Lê Đại Cang đã được nhắc đến như một huyền thoại nhưng còn sơ sài về tư liệu. Tại các địa phương, Lê Đại Cang đã từng làm việc, để lại nhiều dấu ấn, nhiều công tích như Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, việt Bắc, Tây Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Quảng Nam…sách sử và địa phưng chí thời ta ở các nơi này gần như không nhắc gì tới ông, hoặc có nhắc cũng rất qua loa.

Năm 2011, cuốn sách “Lê Đại Cang và Lê thị gia phả” do các hậu duệ Lê Đại Cang thuộc dòng hộ lê lang Luật chánh, Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định biên soạn. Đại Cang là nhân vật lịch sử thật đặc biệt trong một giai đoạn lịch sử cũng rất đặc biệt. Trong hội thảo “Lê Đại Cang với Bắc thành Hà Nội” lần này, chúng ta tập trung nói về thời gian 20 năm ông làm việc ở Bắc thành Hà Nội, đánh giá những đóng góp của Lê Đại Cang cho thủ đô và đất nước và các tỉnh phía Bắc, đồng thời có những kiến nghị những hình thức hợp để tôn vinh ông. Con người và sự nghiệp của Lê Đại Cang cũng những bài học làm người làm quan.”

PGS. TS. Đinh Quang Hải, Viện trưởng Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam khẳng định: “Danh nhân Lê Đại Cang gắn liền với sự nghiệp của ba vị vua đầu vương triều Nguyễn. Có thể trong thời gian 40 năm tham gia chính trường, trải nghiệm trên con đường hoạn lộ kéo dài khắp đất nước…Dù ở bất cứ cương vị nào, ông cũng đem hết tài năng, trí tuệ và sức lực để phụng sự và cống hiến cho Triều đình và nhân dân. Những đóng góp của ông là vô cùng to lớn góp phần làm nên tên tuổi bậc “Danh thần Lê Đại Cang”.

Đạo diễn NSƯT Lê Chức nhận định danh nhân Lê Đại Cang là nhân vật lịch sử đầy bi kịch nhưng đầy vinh quang, chúng tôi rất vinh dự khi dựng lại chân dung của ông trên sân khấu tuồng. Nghề nghiệp sân khấu và nghiêng mình kính cẩn và nhìn hình tượng cụ trên sân khấu. Sân khấu tuồng qua ngôn từ đầy chất tuồng ảnh hưởng của ngọn lửa trong con người Lê Đại Cang. Qua sân khấu tuồng công chúng sẽ góp phần nồng nhiệt về con người mang tâm lớn của chúng ta và sân khấu cũng góp phần vào nhân vật lịch sử này. Chúng ta không có quyền đánh giá nhưng sân khấu sẽ góp một tiếng nói về một nhân vật mà không phải lần đầu mà chúng ta nhắc tới cụ như biết ơn những đóng góp của ông với Bắc thành và Hà Nội. Chắc chắn chúng ta có một Lê Đại Cang trên sân khấu tuồng. Tại Hội thảo Lê Đại Cang với Bắc thành và Hà Nội đều mong muốn có một tuyến đường mang tên ông, nhưng quan điểm của cá nhân tôi tại sao không có một dòng sông mang tên Lê Đại Cang…

Ông  Tạ Xuân Chánh, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao Bình Định cho rằng, Lê Đại Cang là một người con của quê hương Bình Định, một nhân vật lịch sử văn võ toàn tài, đã có nhiều cống hiến to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới triều Nguyễn qua ba đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, để lại một tấm gương sáng ngời về một công bộc toàn tâm, toàn ý, tận trung, tận hiếu với nước với dân. Mặc dù, đường hoạn lộ trải qua nhiều bước thăng trầm nhưng Lê Đại Cang luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh phi thường của kẻ sĩ.

Việc tổ chức Hội thảo “Lê Đại Cang với Bắc Thành và Hà Nội”, hy vọng tầm vóc nhân vật lịch sử Lê Đại Cang sẽ được đánh giá với cái nhìn sử học văn hóa toàn diện. Nhân cách bậc quốc sĩ Lê Đại Cang không chỉ lưu danh trong sử sách, ông cần được tôn vinh rộng rãi hơn trong đời sống xã hội hôm nay và mai sau. Ngoài việc nghiên cứu tôn vinh dân nhân lịch sử, Hội thảo sẽ rút ra những bài học quí giá, những bài học xưa nhưng không bao giờ cũ, về làm quan, làm người từ cuộc đời và sự nghiệp của Lê Đại Cang. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương đẹp về một danh thần nhiều công tích, một bậc quân tử đại trượng phu, một nhân cách của bậc quốc sĩ, sẽ có tác dụng rất tốt với việc giáo dục nhân cách cho cán bộ công chức hôm nay và mai sau.

TS. Nhà văn Lê Thị Bích Hồng tôi muốn được lắng nghe của rất nhiều ý kiến rất hay. Quả thật nếu không có hai cuộc hội thảo, đúng là tôi cũng chưa biết Lê Đại Cang là ai. Khi tiếp cận hai cuốn sách của Tạp chí Văn hiến Việt Nam đọc tôi càng mê, mê muội lẫn cảm phục ông vô cùng. Trong bài viết của tôi về Lê Đại Cang với Bắc thành và Hà Nội. Tôi thấy ở ông chính là sự kết hợp của nhân cách cao cả. một con người dù ở bất cứ vị trí nào ông đều làm rất tốt. Tôi cảm nhận thấy hai vùng quê, một là nơi nguyên quán của ông và nơi ông sinh sống là mảnh đất Bình Định đã hòa quyện đã tạo nên một chân dung con người đầy vinh quang Lê Đại Cang. Từ một người ở trên cao tới người khiêng võng cũng không sao cả.

Ông Phạm Quang Nghị, nguyên Bí thư thành ủy Hà Nội cho rằng Được tiếp xúc nhân vật Lê Đại Cang qua những cuốn sách đã xuất bản và trường ca của Thanh Thảo. Lê Đại Cang đúng là nhân vật đặc biệt. So với nhiều quan chức khác, chức quan ông không to nhưng ông đóng góp rất nhiều cho Triều đình và nhân dân. Con người ông toát lên phẩm chất Trung quân ái quốc, ông toát lên là con người có phẩm chất mẫu mực.

Lê Đại Cang, một nhân vật lịch sử thì chức quan ông không to nhưng di vật của ông thật to lớn. Nhân cách làm quan, làm người của ông làm bao thế hệ chúng ta bị lay động. Trong trường ca của Thanh Thảo thì ông là người khiêng số phận, khiêng cay đắng. Dường như đương thời và hậu thế nhớ tới ông bị giáng chức và buộc bị khiêng võng cho quan bé. Lê Đại Cang chói sáng nhân cách và phẩm giá và tất cả trong các phẩm giá đó. Ông một đời hết mực, hết lòng. Một mẫu người theo ngôn ngữ bây giờ rất năng động và sống trách nhiệm trước nước trước dân. Lê Đại Cang hành xử với tiêu chí trung với nước hiếu với dân ông xứng đáng được nhân dân tôn vinh. Hậu thế càng hiểu và trân trọng ông, một số phận có nhiều cay đắng, ông tiêu biểu cho con người Việt Nam cho dân tộc Việt Nam chúng ta. Về phương diện, một người từng làm việc và công tác tại Hà Nội, tôi tự nhận phê bình để khắc phục.

Về kiến nghị của các đại biểu tôi thấy việc đề xuất Hà Nội cần có một con đường mang tên ông là rất khả thi. Qua hội thảo này, chúng ta sẽ kiến nghị với chính quyền Hà Nội sẽ có một con đường, hay công trình công cộng mang tên ông, nó xứng đáng hơn rất nhiều với hội nghị khác.

Cùng chung quan điểm đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường – Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định: Có thể nói 20 năm làm quan ở Bắc thành đã góp phần quan trọng làm nên tên tuổi một bậc danh thần, một vị lương thần Lê Đại Cang đi vào sử sách. Cũng tại Bắc thành này, Lê Đại Cang có điều kiện để bộc lộ, thi thố tài năng khi xử lý, giải quyết những công việc hành chính nan giải, khiến cho các bạn đồng liêu và dân chúng vị nể, được chính vua Minh Mạng hết lời khen ngợi.

Nói về danh nhân Lê Đại Cang, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Cường – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ghi nhận: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn và thời đại nhiễu nhương, bất ổn, việc học tập theo trường lớp của Lê Đại Cang có nhiều trắc trở. Tuy nhiên khi có điều kiện, ông lại là người nêu tấm gương về tính hiếu học, tinh thần tự học. Nhờ tự học, Lê Đại Cang đã tỏ rõ tầm hiểu biết về nhiều lĩnh vực như địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị… Chính vì vậy, dù không có bằng cấp gì, Lê Đại Cang vẫn được cử làm Chánh chủ khảo kỳ thi Hương ở Thăng Long.

Còn nhà thơ Vũ Bình Lục cho rằng: Tuy sinh ra và trưởng thành tại Bình Định nhưng Lê Đại Cang từng in dấu chân trên khắp mọi miền đất nước. Hình như ở đâu có khó khăn, phức tạp về quân sự, tình hình chính trị bất ổn, đê điều cần được đào đắp, tu bổ, sửa sang, sông ngòi cần được khai thông, nắn dòng để ngăn ngừa thiên tai bất thường thì ở nơi ấy có mặt vị quan năng nổ, liêm khiết và giàu tâm huyết họ Lê. Không có tài năng, không có dũng lược, không được triều đình nhà Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị tin tưởng, sao có thể làm nên công trạng, sự nghiệp đáng nể như vậy.

Nhà sử học Dương Trung Quốc tổng kết Hội thảo nhấn mạnh Lê Đại Cang có gần 20 năm ông thực thi trách nhiệm tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Ít có nhân vật trong 4 năm có 3 cuộc Hội thảo nói lên sự quan tâm của tất cả chúng ta. Lê Đại Cang có điều kiện để bộc lộ, thi thố tài năng khi xử lý, giải quyết những công việc hành chính nan giải, khiến cho các bạn đồng liêu và dân chúng vị nể, khi mắc sai phạm thì bị xử phạt nghiêm và khi lập công được vua Minh Mạng hết lời khen ngợi. Theo Nhà sử học Dương Trung Quốc Hội thảo đã làm sáng tỏ công lao của Lê Đại Cang với Hà Nội và đất nước, đề nghị Hà Nội đặt tên đường phố hoặc một công trình mang tên Lê Đại Cang.

Một số hình ảnh trong buổi hội thảo:

 

Lê Đại Cang (1771-1847), còn gọi là Lê Đại Cương, tự Thống Thiện, hiệu Kỳ Phong, biệt hiệu là Thường Chánh Thị, quê làng Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Lê Đại Cang sinh ra tại quê hương Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định năm 1771. Năm 3 tuổi ông theo cha mẹ ra chơi ở kinh thành Huế, gặp chiến tranh nên cả nhà bị kẹt lại Huế suốt tuổi niên thiếu của ông. Năm 16 tuổi, ông được cha mẹ đưa về quê ở Luật Chánh, Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định, được học những bậc thầy nổi tiếng là thầy Nguyễn Tử Nghiễm (thời Tây Sơn làm Thị giảng, cha của Nguyễn Tử Diệu, Thượng thư bộ Hình của triều Nguyễn), rồi thầy Đặng Đức Siêu (sau làm Thượng thư bộ Lễ của triều Nguyễn).
Khi Lê Đại Cang 21 tuổi (17920, cha mẹ bệnh, nối nhau qua đời, ông phải dừng việc học thầy Đặng Đức Siêu, bắt đầu nghề dạy học để kiếm sống, tiếp tục tự học cả văn võ tại quê nhà và nổi tiếng là văn võ song toàn.

Năm 1802, khi Gia Long thu được đất nước, ông được Quận công Nguyễn Huỳnh Đức và Hình bộ Thượng thư Nguyễn Hoài Quỳnh tiến cử với triều Nguyễn, được bổ chức Tri huyện Tuy Viễn.

Năm 1811, theo giới thiệu của Hậu quân Lê Chất, Tổng hiệp trấn Bắc thành, ông được điều ra Bắc Thành, thăng Binh bộ thiêm sự, lo việc từ chương.

Năm 1821, năm Minh Mạng thứ 2, sung chức Biện lý bang giao sứ sự ở công quản Gia Quất lo việc đón tiếp sứ nhà Thanh. năm 1822, ông được giao giữ chức Hiệp Trấn Sơn Tây.

Năm 1823, ông được điều làm Cai bạ Quảng Nam. Năm 1824, phụ trách huy động hơn 3000 người khơi đào sông Vĩnh Điện dài 1630 trượng thành công, được vua ban thưởng.

Tháng 9/1824, Lê Đại Cang được điều vào làm Cai bạ Vĩnh Thanh. Tháng 5 năm 1825, sông đào Vĩnh Điện ở Quảng Nam bị sụt lở, bị vua quở trách và cách chức nhưng cho cách lưu. Đây là lần cách lưu đầu tiên trong lịch sử.

Tháng 9 năm 1826 được vua triệu về Kinh, Tổng trấn Gia Định thành, Tả quân Lê Văn Duyệt vì mến tài Lê Đại Cang đã dâng sở xin giữ lại. Nhưng Vua không cho.

Tháng 11 năm 1826, được bổ Thị lang bộ Hình, tháng 5/1827 thăng Hữu Tham tri bộ Hình. Tháng 7 năm 1827 được vua cử làm khâm sai ra Bắc thành xem xét xử các vụ án hình tồn đọng. Vua dụ rằng: “Bắc Thành gần đây bị vỡ đê, bọn tào trưởng Vũ Xuân Cẩn phải đi phát chẩn, việc án để đọng, không thể chóng làm xong được. Để đọng một ngày thì dân chịu khổ một ngày, ngươi nên thanh lý cho chóng. Hết thảy các án kiện giao cho, cùng án mạng án cướp trong hạt, đến tháng 11 phải xét xử xong. Còn như tạp án tầm thường thì do thành xét xử, đến cuối năm phải xong cả, khiến tào không có án để đọng, ngục không có tù giam lâu, để đáp ý trẫm cẩn thận việc ngục thương xót việc hình”. Tháng 11, đúng thời hạn vua ra, Lê Đại Cang đã hoàn thành nhiệm vụ, trở về kinh, được vua khen.

Tháng 9 năm 1828 được điều phụ trách Nha đê chính Bắc Thành, Trước khi Lê Đại Cang lên đường ra Bắc, vua Minh Mạng dụ rằng : “Việc chống lụt quan hệ rất lớn. Ngươi là người biết lẽ, trước kia việc hình ngục ở Bắc Thành, ngươi đến nơi là làm xong ngay. Nay trách nhiệm về Đê chính càng nặng nề. Lần này đi, nên hết lòng xếp đặt để cho nước chảy thuận dòng, cho dân càng mừng êm sóng thì công ấy chẳng nhỏ đâu”. .

Tháng 11/1828, trực tiếp chỉ đạo khởi công đắp hệ thống đê công mới ở Bắc thành với công trình lớn có 18 sở, công trình nhỏ hơn 1000 sở. Tháng 12/1828 được vua ban thưởng vì công trạng trong việc đắp đê. Tháng 4 năm 1829 vì vỡ đê ở Đa Hòa, Kim Quan, bị giáng chức xuống 3 cấp. Tháng 8/1829, công việc đăp đê ở Bắc Thành hoàn tất, các đoạn đê vỡ được gia cố vững chắc, Lê Đại Cang được phục chức. Trong thời gian này, ông đã biên soạn cuốn sách thống kê hết sức công phu, cụ thể về hệ thống đê công tư ở Bắc thành. Đây là cuốn sách đầu tiên về đê điều ở nước ta. Tháng 6/1830, do vỡ đê ở Sơn Nam, Lê Đại Cang lại bị cách chức. Tháng 8/1830, khắc phục tốt hậu quả vỡ đê lại được phục chức, ban thưởng và được cử kiêm Hình tào Bắc thành. Hơn 4 năm phụ trách Nha đê chính Bắc thành, Lê Đại Cang đã thực hiện đắp mới và tôn tạo hàng ngàn km đê ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.

Tháng 9 năm 1831, được cử làm chủ khảo khoa thi hương ở trường thi Hà Nội. Trong số hơn 20 người đỗ cử nhân ở trường thi này có Cao Bá Quát được Lê Đại Cang chọn đỗ thứ hai nhưng sau bị triều đình đánh rớt.

Tháng 10/1831, nhận ấn quyền Tổng trấn Bắc thành, được giao kinh lý việc chia lại các hạt ở Bắc Thành. Sau khi chia hạt thành công, Lê Đại Cang được thăng làm Binh bộ Thượng thư, Đô sát viện Hữu đô ngự sử, Tổng đốc Sơn Tây – Hưng Hoá – Tuyên Quang kiêm Tuần phủ Sơn Tây. Tháng 7/1832 kiêm lãnh Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình. Tháng 11 năm 1832, được giao làm Tổng đốc An Giang – Hà Tiên, kiêm lĩnh ấn “Bảo hộ Chân Lạp quốc”. Trước khi đi nhậm chức, Minh Mạng vời Lê Đại Cương vào ra mắt và dụ rằng: “An Giang là tỉnh mới đặt, trong thì trấn thủ, vỗ về nước Phiên, ngoài thì khống chế nước Xiêm, sự thể rất quan trọng. Ngươi nay cai trị đất ấy, phàm những việc quân, dân, trọng đại cùng thành trì và kho tàng đều nên hết sức lo liệu để phu phỉ ý ta mong ngươi làm được thành công”.

Năm 1833, Lê Đại Cang chủ trì việc xây thành mới An Giang, chấn chỉnh quân đội, huấn luyện binh sĩ tại đây. Chủ trì khai mở đường thủy từ sông Tiền Giang ở Tân Thành thẳng đến sông Hậu Giang ở Châu Đốc dài hơn 3000 trượng. Chiêu mộ được 10 đội quân Phiên (Chân Lạp) xin đặt tên được vua đặt tên là cơ An Biên.

Tháng 6/1833, họa phản loạn Lê Văn Khôi nổi lên, vua ra lệnh cho Lê Đại Cang hợp sức đánh dẹp. Do binh lực của Lê Văn Khôi quá mạnh, để mất thành An Giang, Lê Đại Cang dâng sở xin chịu tội. Vua cách chức Tổng Đốc cho làm “đới lãnh binh dõng quân tiền hiệu lực”, từ đại thần trở thành lính khiêng võng đi đầu lập công chuộc tội. Trong thận phận một người lính đang chịu tội, Lê Đại Cang đã tập hợp tàn quân, tuyển thêm binh lính người Việt và người Miên, tự xây dựng, huấn luyện được một đội quân trên 2000 người hùng mạnh, đồng chí đồng tâm, phối hợp với viện binh triều đình phản công giặc Khôi và quân xâm lược Xiêm, tái chiếm lại An Giang và các vùng đất đã mất. Chỉ trong 4 tháng, từ một “dõng quân” được thăng liên tục các chức Binh bộ Viên ngoại lang, kiêm Phó lãnh binh, rồi Án sát sứ, Bố chính sứ kiêm Lãnh binh và thự lý Tuần phủ An Giang.

Tháng 3/1834, quân Xiêm lại động binh uy hiếp Chân Lạp, Lê Đại Cang tâu vua xin đem quân đánh giữ. Sau khi chỉ huy cánh quân theo đường bộ Quang Hóa phối hợp các cánh quân theo đường thủy do Trương Minh Giảng chỉ huy đảnh đuổi quân Xiêm ra khỏi Chân Lạp. Tháng 6/1834, được thăng Tham tri bộ Binh, Tuần phủ An Giang, được Minh Mạng giao đưa vua Chân Lạp từ Việt Nam về nước, lưu lại Nam Vang lo việc bảo hộ Chân Lạp.

Năm 1835, do vua Chân Lạp mất, Minh Mạng lập Chân Lạp làm Trấn Tây thành thuộc nước ta, Lê Đại Cang được bổ làm Trấn Tây tham tán đại thần cùng Trương Minh Giảng giữ chức tướng quân lo sắp đặt quản lý Cao Miên. Tháng 7/1835, được lĩnh ấn Tổng đốc quan phòng An Giang – Hà Tiên. Năm 1836, năm 65 tuổi, ông xin về hưu nhưng vua Minh Mạng không cho, châu phê “Lão đương ích tráng” và dụ gắng sức ở lại làm việc. Tiếp tục làm Tuần phủ An Giang kiêm Trấn Tây tham tán đại thần. Tuy vậy, vì không thống nhất với việc vua triệt tiêu nền độc lập của Chân Lạp, biến nước láng giềng thành một trấn của nước ta, Lê Đại Cang thường ở Châu Đốc lo trách nhiệm Tuần phủ An Giang, ít khi có mặt ở Nam Vang.

Tháng hai 1838, loạn người Chân Lạp nổi lên ở Hải Đông, Khai Miên, thổ binh ở đây theo loạn đảng. Do không có mặt ở Nam Vang, Lê Đại Cang bị quy tội “khinh nhờn”, bị cách chức Tuần phủ An Giang kiêm Trần Tây tham tán đại thần, phải theo quân thứ Hải Đông hiệu lực, lần thứ hai đi làm lính khiêng võng. Tại đạo Trà Gi, quân thứ Hải Đông, Lê Đại Cang thấy binh đội ở đây tổ chức kém, tinh thần rệu rã nên đã xin quan phụ trách đạo này đứng ra huấn luyện binh đội ở đây từ yếu thành mạnh, có sức chiến đấu cao. Từ đó, ông đem quân kéo tới hợp với binh triều của Trương Minh Giảng, Dương Văn Phong đánh dẹp loạn đảng và giặc Xiêm. Giảng và Phong đem việc ấy tâu vua Minh Mạng mong vua cho Lê Đại Cang đoái công chuộc tội, nhưng vua không bằng lòng, còn truyền rằng: “Đại Cang bị cách hiệu, sao dám tự tôn mình là đại tướng, chẳng sợ phép nước, chẳng kiêng công luận. Vậy Đại Cang phải tội trảm giam hậu, Trương Minh Giảng giáng xuống làm Binh bộ thượng thư, còn Dương Văn Phong giáng 3 cấp”.

Cuối năm 1838, Lê Đại Cang bị đưa về triều giam ít lâu rồi bị phát đi đồn điền ở Nguyên Thượng.

Năm Thiệu Trị thứ nhất, năm 1841, tháng 7, được vua Thiệu Trị phục chức Viên ngoại lang, khâm sai Bắc kỳ biện lý bang giao sứ vụ lo việc bang giao với Trung Quốc. Hoàn thành tốt nhiệm vụ, ông được thăng thự Bố chánh sứ Hà Nội.

Tháng 10/1842, năm 72 tuổi, ông xin về hưu, được vua Thiệu Trị chuẩn y.

Năm 1842, Lê Đại Cang hồi hương. Ông khôi phục từ đường họ Lê ở làng Luật Chánh, lập ra chùa Giác Am để tu tâm dưỡng tính và lấy hiệu là Giác Am cư sĩ và lập Văn chỉ Tuy Phước làm nơi tụ họp văn nhân Tuy Phước khuyến tài khuyến học. Ông mất tại quê nhà ngày 24 tháng 8 (âm lịch) 1847, thọ 76 tuổi.

Sinh thời, Lê Đại Cang còn nổi tiếng là một người cự phách, hiển đạt về văn chương, đã có một số tác phẩm văn chương được truyền tụng. Đó là hai tập văn “Nam hành”, “Tục Nam hành”, hai tập bút ký ghi lại những công việc ông đã trải qua trong bước đường làm quan ở phương Nam và Chân Lạp, một tập thơ có tên “Tĩnh ngu thi tập” và tập “Lê thị gia phả”. Cho đến nay, các tập “Nam hành”, “Tục Nam hành”, “Tĩnh ngu thi tập” đều chưa tìm thấy văn bản, chỉ còn tập “Lê thị gia phả” vốn được lưu giữ tại từ đường họ Lê ở Luật Chánh, sau ngày miền Nam giải phóng được gia tộc hiến cho Bảo tàng Quang Trung. “Lê thị gia phả” là tập gia phả dòng họ Lê làng luật Chánh được Lê Đại Cang âm thầm thực hiện ngay khi còn ở chốn quan trường, xa quê hương bản quán với ý thức “Tộc không có phả như nước không có sử”. Lê Đại Cang đã hoàn thành tập gia phả trên vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), khi đang làm Tuần phủ An Giang kiêm Trấn Tây Tham tán Đại thần. Nhiều người đọc tập “Lê Thị gia phả” đều cho đây không chỉ là tập sách chép lịch sử dòng họ Lê làng Luật Chánh mà còn chứa đựng những bài học làm người sâu sắc của một bậc đại trí, đại nhân…

Trong cuộc đời 41 năm làm quan “cơ cực, vì nước quên thân, vì việc công quên việc tư, lấy trung làm hiếu” (lời của Lê Đại Cang trong “Lê Thị gia phả”), có lẽ việc hai lần bị cách chức làm lính khiêng võng ở vùng đất phương Nam đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức Lê Đại Cang. Bởi vậy, khi về hưu tại quê nhà, vật quý nhất ông đem theo chính là chiếc đòn khiêng võng. Đây là chiếc đòn khiêng võng đã gắn bó cùng ông trong hai lần bị cách chức xuống làm lính dõng tại vùng đất An Giang – Hà Tiên những năm 1832-1838. Chiếc đòn này được đặt ở vị trí trang trọng tại từ đường họ Lê làng Luật Chánh cho đến sau ngày miền Nam giải phóng được giao cho Bảo tàng Tổng hợp Bình Định lưu giữ, trưng bày.

Phản hồi

Nhập bình luận
Nhập tên bạn